Nàng Điểm Bích. Một trứng tu hú trong tổ chim sâu

By Viennhu

CHUYỆN NÀNG ĐIỂM BÍCH TRONG “TỔ GIA THỰC LỤC” - MỘT TRỨNG TU HÚ TRONG TỔ CHIM SÂU Tưởng niệm 677 năm ngày mất của thiền sư Huyền Quang 23-1- Giáp tuất (1334) 23-1-Tân mão (2011) Viên Như Nghiên cứu về Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334) Tổ thứ 3 Thiền phái Trúc Lâm hiện nay chúng ta chỉ có sách Bản Hạnh Ngữ Lục (BHNL) được biên tập lại trong sách Tam tổ Thực Lục (TTTL) với tiêu đề ấy nhưng chỉ có duy nhất phần Tổ Gia Thực Lục (TGTL) vài ghi chú trong một số văn bia và 25 bài thơ được cho là trích từ các tập thơ đã mất cùng một bài phú vịnh Chùa Hoa Yên. Việc thiếu tài liệu về một con người tài hoa và nhiều bí ẩn như vậy khiến cho việc nghiên cứu về nhân thân của ông hết sức khó khăn. Nhất là tác phẩm hiện còn lại gây ra nhiều suy nghĩ tiêu cực về cuộc đời của ông trong đó chủ yếu là sách Tổ Gia Thực Lục. Có lẽ chính vì ảnh hưởng của nội dung sách này nên từ trước đến nay đa số người dịch bài Xuân Nhật Tức Sự của ông đều cho rằng ông bị ảnh hưởng chuyện trần tục từ đó cung cấp cho người đọc những khái niệm sai lệch về một con người tài hoa một thời. Ngày nay hậu thế thường nghiên cứu các sự kiện lịch sử hay văn thơ xưa chủ yếu qua các bản dịch. Hoặc do trình độ chữ Hán giới hạn hoặc lười biếng nên tin vào bản dịch từ đó tư duy bình luận chủ yếu dựa vào bản dịch cùng với chú thích của tác giả. Tôi cũng không ngoại lệ nhưng nhiều lần đọc thơ ông bổng dưng thấy cảm cái cô đơn trong thơ ông từ đó một câu hỏi “Điều gì đã xảy ra với ông?” luôn xuất hiện trong tôi mỗi khi nhắc đến tên ông rồi một hôm đọc bản Tổ gia thực lục bằng chữ Hán tôi chợt nhận ra rằng có nhiều điều cần phải bàn về tác phẩm này từ văn phong cách dùng từ mốc thời gian. Tôi nghĩ rằng có thể từ những phát hiện này ta có thể có cách nhìn khác hơn về tác phẩm này chăng. Trong phạm vi bài viết này tôi xin trình bày những gì mà tôi cho rằng tác phẩm này “có vấn đề” hay nói khác hơn là về tính chân thực của tác phẩm “Tổ Gia Thực lục” . Về xuất xứ : Theo phần chú ở cuối sách thì sách TGTL nguyên trước được Thượng Thư Hoàng Phúc mang về Trung Quốc vào đời Tuyên Đức nhà Minh (1426 – 1435) trong đợt càn quét sách vở nước Đại Việt mang về Kim Lăng. Từ khi mang sách này về Trung Quốc Hoàng Phúc thường nằm mộng thấy Huyền Quang bảo phải gởi sách về Đại Việt nhưng chưa có dịp thực hiện trước sự linh ứng ấy ông cho làm một ngôi chùa lấy tên là “ An Nam Thiền Sư Huyền Quang Tự” Đến năm Gia Tĩnh triều Minh Tô Xuyên Hầu (Lê Quang Bí đậu Hoàng Giáp năm 1526 làm quan đến chức Binh Bộ Thị lang) nhà hậu Lê đi sứ gặp cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa đưa cho mang về. Khi về nước ông lại đưa sách này cho Nguyễn Bỉnh Khiêm từ ấy sách này được lưu truyền tại nước Việt. (60a 60b) Về tác giả Sách TGTL không ghi do ai soạn. Hoà Thượng Thích Thanh Từ thì cho rằng một người trong gia tộc viết lại(2) có lẽ căn cứ vào tên sách. Tuy nhiên nội hàm ngữ nghĩa của từ Tổ Gia Thực Lục chứa đựng một nghĩa rộng hơn “Ghi chép về Gia thế của Tổ” nếu ta đọc kỷ nội dung và cách trình bày sách TGTL thì ta sẽ khó có thể nghĩ rằng một người trong gia tộc của ông lại viết như thế được bố cục và nội dung của bản Tổ Gia Thực Lục này cho thấy rỏ điều đó. Về nội dung Nếu so sánh tiểu sử của Điều Ngự và Pháp Loa trong Tam Tổ Thực Lục thì những gì được ghi lại về Huyền Quang trong TGTL quá ít ỏi chủ yếu nói về chuyện Điểm Bích không những ít mà còn có nhiều chổ mâu thuẩn và bất cập. Tuy nhiên như thế vẫn còn may mắn vì ít ra còn có một chút gì đó để những người nghiên cứu có thể căn cứ vào đó để đi vào quá khứ và từ đó có thể hiểu được đôi chút về cuộc đời của Thiền sư Huyền Quang. Phương pháp sáng tác Phần đầu và phần kết thì viết theo lối tiểu sử của các cao tăng nhưng đoạn giữa chủ yếu là viết về chuyện nàng Điểm Bích theo lối tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc diển nghĩa của Trung quốc. Điều này ta không tìm thấy trong bất cứ tiểu sử nào của thiền sư Việt nam. Đi vào tác phẩm Toàn bộ tác phẩm gồm : I - TRANG BÌA VỚI TIÊU ĐỀ “BẢN HẠNH NGỮ LỤC”. II – NỘI DUNG SÁCH TGTL : Từ trang 49a tới 60b –là 12 tờ mỗi tờ 2 trang thành 24 trang chia làm 3 phần như sau : A - Từ tờ 49a nửa tờ 51b nói về giòng họ truyền thuyết về sự ra đời của ông (như hầu hết các của các vị cao tăng) thời niên thiếu và chuyện trước khi đi tu nguyên nhân đi tu. (4 5 trang). B - Từ nửa trang 51b tới nửa trang 59b nói về chuyện Điểm Bích (17 trang). C - Từ nửa trang 59b tới nửa trang 60a nói về thời gian cuối đời của ông. (1 trang). D - Từ nửa trang 60a tới trang 60b nói về nguồn gốc lưu hành sách TGTL 2 do người đời sau chú thích. I - TRANG BÌA VỚI TIÊU ĐỀ “BẢN HẠNH NGỮ LỤC”. Trước sách TGTL ta thấy có tờ bìa ghi Bản Hạnh Ngữ Lục như vậy chứng tỏ rằng có một cuốn sách tên là Bản Hạnh Ngữ Lục TGTL chỉ là một phần trong sách ấy mà thôi có nghĩa rằng trong sách Bản Hạnh Ngữ Lục còn có những phần khác ghi lại những giáo huấn của thiền sư Huyền Quang có thể bao gồm các tác phẩm thơ văn những đối đáp của ông với đệ tử kinh sách mà ông đã trước tác như nghĩa của từ “ngữ lục” mang lại mà muốn ghi lại những lời dạy cũng như các tác phẩm thơ văn của ông thì nhất định phải là đệ tử xuất gia thân cận với ông. Tuy nhiên hiện nay chỉ còn lại phần TGTL với nội dung gây nên nửa tin nửa ngờ còn những phần khác có thể bị hủy hay nhập vào một tác phẩm nào đó ở phương bắc. Như thế tôi cho rằng trong số sách vở của Đại Việt được mang về phương bắc có cuốn Bản Hạnh Ngữ Lục trong đó có phần TGTL với nội dụng đầy đủ ở đây tôi tạm gọi là TGTL1 dựa vào cuốn TGTL1 này họ xào nấu lại đưa câu chuyện Điểm Bích vào gởi về nước Việt từ đó ta có cuốn TGTL đang lưu hành hiện nay tạm gọi là TGTL2. Như thế việc gởi sách TGTL2 về nước Việt là có dụng ý từ nhận định này ta thấy cần phải xem xét lại tính chân thật của tác phẩm này. II – NỘI DUNG SÁCH TGTL : II/A - Nói về dòng họ quê quán sự nghiệp của ông .Từ tờ 49a nửa tờ 51b (4 5 trang). Nói một cách vắn tắc về quê quán dòng họ chức vụ công trạng từ thỉ tổ cho đến cha mẹ của ông truyền thuyết về sự ra đời của ông với tư chất thông minh từ thời niên thiếu có thể sánh với Á Thánh Nhan Hồi nên đặt tên là Tải Đạo rồi đến năm 20 tuổi thi Hương năm sau thi Hội (đại khoa) đổ khôi thủ . Qua đoạn mở đầu này người đọc dễ có nhận thức rằng người viết phần TGTL2 này chắc chắn là đệ tử thân tín của ông. Bởi vì chỉ với những người ấy mới có thể nắm chắc được tên họ chức vụ công trạng của cha mẹ ông nội ông cố ông sơ của ông như vậy cho dù có sửa đổi chút ít. Cá nhân tôi lâu nay cũng tin như vậy. Tuy nhiên đây chính là nhược điểm của người đọc bởi vì mỗi khi tin như vậy rồi thì những phần khác cũng không thắc mắc gì nữa đây là một thủ thuật mà nhiều kẻ lừa đảo vẫn thường sử dụng. Trước hết chúng tạo niềm tin làm cho đối phương mất cảnh giác rồi sau mới ra tay chính vì vậy việc để nguyên đoạn đầu này là để thực hiện ý đồ như đã nói. Tuy nhiên ngay trong đoạn mở đầu này kẻ dấu mặt kia do chủ quan và có thể không phải sửa vào thời Trần và trên đất Đại Việt nên cũng đã để lại nhiều sai lầm như sau : 1 - Theo Lịch sử thì ông tên là Đạo Tái(Tải) chứ không phải là Tải Đạo như TGTL2 đã ghi. Điều này chứng tỏ rằng người viết lại đoạn này suy nghĩ trật tự từ ngữ theo lối Trung quốc nên mới viết “ Đạo tải” thành “ Tải Đạo”. 2 - Năm 21 tuổi ông mới thi Hương chứ không phải là năm hai mươi(niên nhị thập) như TGTL2 viết vì theo lịch sử thì năm Ất Hợi 1275 mới có Đại khoa tức thi Hội (3) ông sinh năm 1254 như vậy năm đó ông đã 22 trước kỳ thi Hội một năm là thi Hương như vậy ông thi Hương vào năm 21 tuổi. Lý do cho việc sai lầm này là vì kẻ viết lại phần TGTL2 này chủ quan vì chữ “nhất” trong chữ Hán chỉ là một gạch ngang quá đơn giản nên dễ bị rơi rụng hơn nữa kẻ ấy có lẽ nghĩ rằng 20 hay 21 thì có hề gì đâu ngờ rằng ở Đại Việt suốt một thời gian dài nhà Trần mới có thi Hội chứ đâu phải mỗi năm mỗi thi; đồng thời mỗi kỳ thi đều được ghi lại trong lịch sử. Với những gì đã nêu rỏ ràng tác phẩm này (cụ thể là phần II/B) không thể do đệ tử thân tín hay người trong gia tộc viết được. 3 - Năm 1247 nhà Trần đặt ra danh hiệu Tam khôi để chỉ ba người xuất sắc nhất trong số thí sinh thi đổ theo thứ bậc cao thấp là: Trạng nguyên Bảng nhãn và Thám hoa (4). Vậy ông đổ khôi thủ có nghĩa là ông đổ trạng nguyên ngoài tài liệu TGTL2 này ta còn có nhiều chứng cứ cho thấy rằng ông đổ Trạng nguyên năm đó (1275) nhưng theo lịch sử khoa thi năm đó Trạng nguyên là Đào Tiêu Bảng nhãn khuyết danh và thám hoa là Quách nhẫn (5). Tại sao có điều này?. Rỏ ràng có bàn tay lông lá nào đó đã sửa đoạn này bởi vì nhà Trần mở khoa thi là để tìm kiếm người tài để phục vụ triều đình vậy tại sao trạng nguyên Đào Tiêu hầu như không để lại một danh tiếng gì. Trong khi đó Lý Đạo Tái thì làm đến quan Hàn Lâm (có lẽ tương đương bộ Ngoại giao bây giờ) tiếp sứ phương Bắc văn thư qua lại ngôn ngữ văn chương vượt cả lân bang ấy vậy mà không có tên trong khoa thi này. Như thế chí ít thì chổ khuyết danh đó là Lý Đạo Tái. Tuy nhiên với những gì đã nêu cùng nhiều chứng cứ về việc Lý Đạo Tái đã đổ Trạng Nguyên khoa thi năm Ất Hợi 1275 ta có thể nghĩ rằng : chổ khuyết danh đó chính là vị trí của Đào Tiêu. Nhưng tại sao lại có chuyện chuyển đổi và xóa bỏ này? Ai đã làm điều đó? Làm như thế với mục đích gì? Đó là những câu hỏi cần phải tìm hiểu. 4 - Có một điểm cần phải lưu ý là : Ở đoạn này đại từ để chỉ cho Ts Huyền Quang là “TỔ”. Tổng cộng 5 lần. II/B - Về chuyện Điểm Bích. Từ nửa trang 51b tới nửa trang 59b (17 trang). 1 –Toàn bộ phần viết về Huyền Quang là 22 5 trang mà riêng phần nói về Điểm Bích chiếm 17 trang như thế ta thấy phần này đã chiếm hết ¾ cuốn TGTL2 này. Vậy ta có thể nói rằng mục đích của cuốn TGTL2 này là viết về chuyện Điểm Bích. Chính vì vậy từ đây văn phong hoàn toàn khác với đoạn trước cách dùng từ cũng khác có những lầm lẫn mà từ đó ta có thể thấy rằng kẻ nhào nặn ra cái nội dung hổn hợp này chắc chắn không phải là người Việt và không viết trên đất Việt cho dù có mặt của một bài thơ Nôm. 2 - Trước tiên ta thấy đoạn này người viết theo lối tiểu thuyết chương hồi như kiểu Tam Quốc chí như: “khước thuyết Tổ thiếu thời(51a) khước thuyết sư khai sáng(53a ) khước thuyết sư chí Vân Yên(53b) khước thuyết Thị Bích đắc kim tử bái hồi gia(57b)- Lại nói về lúc trẻ của Tổ lại nói về khi sư khai sáng lại nói về sư đến chùa Vân Yên lại nói về khi Thị Bích đượ