Nàng Điểm Bích. Một trứng tu hú trong tổ chim sâu

By Viennhu

CHUYỆN NÀNG ĐIỂM BÍCH TRONG “TỔ GIA THỰC LỤC” - MỘT TRỨNG TU HÚ TRONG TỔ CHIM SÂU Tưởng niệm 677 năm ngày mất của thiền sư Huyền Quang 23-1- Giáp tuất (1334) 23-1-Tân mão (2011) Viên Như Nghiên cứu về Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334) Tổ thứ 3 Thiền phái Trúc Lâm hiện nay chúng ta chỉ có sách Bản Hạnh Ngữ Lục (BHNL) được biên tập lại trong sách Tam tổ Thực Lục (TTTL) với tiêu đề ấy nhưng chỉ có duy nhất phần Tổ Gia Thực Lục (TGTL) vài ghi chú trong một số văn bia và 25 bài thơ được cho là trích từ các tập thơ đã mất cùng một bài phú vịnh Chùa Hoa Yên. Việc thiếu tài liệu về một con người tài hoa và nhiều bí ẩn như vậy khiến cho việc nghiên cứu về nhân thân của ông hết sức khó khăn. Nhất là tác phẩm hiện còn lại gây ra nhiều suy nghĩ tiêu cực về cuộc đời của ông trong đó chủ yếu là sách Tổ Gia Thực Lục. Có lẽ chính vì ảnh hưởng của nội dung sách này nên từ trước đến nay đa số người dịch bài Xuân Nhật Tức Sự của ông đều cho rằng ông bị ảnh hưởng chuyện trần tục từ đó cung cấp cho người đọc những khái niệm sai lệch về một con người tài hoa một thời. Ngày nay hậu thế thường nghiên cứu các sự kiện lịch sử hay văn thơ xưa chủ yếu qua các bản dịch. Hoặc do trình độ chữ Hán giới hạn hoặc lười biếng nên tin vào bản dịch từ đó tư duy bình luận chủ yếu dựa vào bản dịch cùng với chú thích của tác giả. Tôi cũng không ngoại lệ nhưng nhiều lần đọc thơ ông bổng dưng thấy cảm cái cô đơn trong thơ ông từ đó một câu hỏi “Điều gì đã xảy ra với ông?” luôn xuất hiện trong tôi mỗi khi nhắc đến tên ông rồi một hôm đọc bản Tổ gia thực lục bằng chữ Hán tôi chợt nhận ra rằng có nhiều điều cần phải bàn về tác phẩm này từ văn phong cách dùng từ mốc thời gian. Tôi nghĩ rằng có thể từ những phát hiện này ta có thể có cách nhìn khác hơn về tác phẩm này chăng. Trong phạm vi bài viết này tôi xin trình bày những gì mà tôi cho rằng tác phẩm này “có vấn đề” hay nói khác hơn là về tính chân thực của tác phẩm “Tổ Gia Thực lục” . Về xuất xứ : Theo phần chú ở cuối sách thì sách TGTL nguyên trước được Thượng Thư Hoàng Phúc mang về Trung Quốc vào đời Tuyên Đức nhà Minh (1426 – 1435) trong đợt càn quét sách vở nước Đại Việt mang về Kim Lăng. Từ khi mang sách này về Trung Quốc Hoàng Phúc thường nằm mộng thấy Huyền Quang bảo phải gởi sách về Đại Việt nhưng chưa có dịp thực hiện trước sự linh ứng ấy ông cho làm một ngôi chùa lấy tên là “ An Nam Thiền Sư Huyền Quang Tự” Đến năm Gia Tĩnh triều Minh Tô Xuyên Hầu (Lê Quang Bí đậu Hoàng Giáp năm 1526 làm quan đến chức Binh Bộ Thị lang) nhà hậu Lê đi sứ gặp cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa đưa cho mang về. Khi về nước ông lại đưa sách này cho Nguyễn Bỉnh Khiêm từ ấy sách này được lưu truyền tại nước Việt. (60a 60b) Về tác giả Sách TGTL không ghi do ai soạn. Hoà Thượng Thích Thanh Từ thì cho rằng một người trong gia tộc viết lại(2) có lẽ căn cứ vào tên sách. Tuy nhiên nội hàm ngữ nghĩa của từ Tổ Gia Thực Lục chứa đựng một nghĩa rộng hơn “Ghi chép về Gia thế của Tổ” nếu ta đọc kỷ nội dung và cách trình bày sách TGTL thì ta sẽ khó có thể nghĩ rằng một người trong gia tộc của ông lại viết như thế được bố cục và nội dung của bản Tổ Gia Thực Lục này cho thấy rỏ điều đó. Về nội dung Nếu so sánh tiểu sử của Điều Ngự và Pháp Loa trong Tam Tổ Thực Lục thì những gì được ghi lại về Huyền Quang trong TGTL quá ít ỏi chủ yếu nói về chuyện Điểm Bích không những ít mà còn có nhiều chổ mâu thuẩn và bất cập. Tuy nhiên như thế vẫn còn may mắn vì ít ra còn có một chút gì đó để những người nghiên cứu có thể căn cứ vào đó để đi vào quá khứ và từ đó có thể hiểu được đôi chút về cuộc đời của Thiền sư Huyền Quang. Phương pháp sáng tác Phần đầu và phần kết thì viết theo lối tiểu sử của các cao tăng nhưng đoạn giữa chủ yếu là viết về chuyện nàng Điểm Bích theo lối tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc diển nghĩa của Trung quốc. Điều này ta không tìm thấy trong bất cứ tiểu sử nào của thiền sư Việt nam. Đi vào tác phẩm Toàn bộ tác phẩm gồm : I - TRANG BÌA VỚI TIÊU ĐỀ “BẢN HẠNH NGỮ LỤC”. II – NỘI DUNG SÁCH TGTL : Từ trang 49a tới 60b –là 12 tờ mỗi tờ 2 trang thành 24 trang chia làm 3 phần như sau : A - Từ tờ 49a nửa tờ 51b nói về giòng họ truyền thuyết về sự ra đời của ông (như hầu hết các của các vị cao tăng) thời niên thiếu và chuyện trước khi đi tu nguyên nhân đi tu. (4 5 trang). B - Từ nửa trang 51b tới nửa trang 59b nói về chuyện Điểm Bích (17 trang). C - Từ nửa trang 59b tới nửa trang 60a nói về thời gian cuối đời của ông. (1 trang). D - Từ nửa trang 60a tới trang 60b nói về nguồn gốc lưu hành sách TGTL 2 do người đời sau chú thích. I - TRANG BÌA VỚI TIÊU ĐỀ “BẢN HẠNH NGỮ LỤC”. Trước sách TGTL ta thấy có tờ bìa ghi Bản Hạnh Ngữ Lục như vậy chứng tỏ rằng có một cuốn sách tên là Bản Hạnh Ngữ Lục TGTL chỉ là một phần trong sách ấy mà thôi có nghĩa rằng trong sách Bản Hạnh Ngữ Lục còn có những phần khác ghi lại những giáo huấn của thiền sư Huyền Quang có thể bao gồm các tác phẩm thơ văn những đối đáp của ông với đệ tử kinh sách mà ông đã trước tác như nghĩa của từ “ngữ lục” mang lại mà muốn ghi lại những lời dạy cũng như các tác phẩm thơ văn của ông thì nhất định phải là đệ tử xuất gia thân cận với ông. Tuy nhiên hiện nay chỉ còn lại phần TGTL với nội dung gây nên nửa tin nửa ngờ còn những phần khác có thể bị hủy hay nhập vào một tác phẩm nào đó ở phương bắc. Như thế tôi cho rằng trong số sách vở của Đại Việt được mang về phương bắc có cuốn Bản Hạnh Ngữ Lục trong đó có phần TGTL với nội dụng đầy đủ ở đây tôi tạm gọi là TGTL1 dựa vào cuốn TGTL1 này họ xào nấu lại đưa câu chuyện Điểm Bích vào gởi về nước Việt từ đó ta có cuốn TGTL đang lưu hành hiện nay tạm gọi là TGTL2. Như thế việc gởi sách TGTL2 về nước Việt là có dụng ý từ nhận định này ta thấy cần phải xem xét lại tính chân thật của tác phẩm này. II – NỘI DUNG SÁCH TGTL : II/A - Nói về dòng họ quê quán sự nghiệp của ông .Từ tờ 49a nửa tờ 51b (4 5 trang). Nói một cách vắn tắc về quê quán dòng họ chức vụ công trạng từ thỉ tổ cho đến cha mẹ của ông truyền thuyết về sự ra đời của ông với tư chất thông minh từ thời niên thiếu có thể sánh với Á Thánh Nhan Hồi nên đặt tên là Tải Đạo rồi đến năm 20 tuổi thi Hương năm sau thi Hội (đại khoa) đổ khôi thủ . Qua đoạn mở đầu này người đọc dễ có nhận thức rằng người viết phần TGTL2 này chắc chắn là đệ tử thân tín của ông. Bởi vì chỉ với những người ấy mới có thể nắm chắc được tên họ chức vụ công trạng của cha mẹ ông nội ông cố ông sơ của ông như vậy cho dù có sửa đổi chút ít. Cá nhân tôi lâu nay cũng tin như vậy. Tuy nhiên đây chính là nhược điểm của người đọc bởi vì mỗi khi tin như vậy rồi thì những phần khác cũng không thắc mắc gì nữa đây là một thủ thuật mà nhiều kẻ lừa đảo vẫn thường sử dụng. Trước hết chúng tạo niềm tin làm cho đối phương mất cảnh giác rồi sau mới ra tay chính vì vậy việc để nguyên đoạn đầu này là để thực hiện ý đồ như đã nói. Tuy nhiên ngay trong đoạn mở đầu này kẻ dấu mặt kia do chủ quan và có thể không phải sửa vào thời Trần và trên đất Đại Việt nên cũng đã để lại nhiều sai lầm như sau : 1 - Theo Lịch sử thì ông tên là Đạo Tái(Tải) chứ không phải là Tải Đạo như TGTL2 đã ghi. Điều này chứng tỏ rằng người viết lại đoạn này suy nghĩ trật tự từ ngữ theo lối Trung quốc nên mới viết “ Đạo tải” thành “ Tải Đạo”. 2 - Năm 21 tuổi ông mới thi Hương chứ không phải là năm hai mươi(niên nhị thập) như TGTL2 viết vì theo lịch sử thì năm Ất Hợi 1275 mới có Đại khoa tức thi Hội (3) ông sinh năm 1254 như vậy năm đó ông đã 22 trước kỳ thi Hội một năm là thi Hương như vậy ông thi Hương vào năm 21 tuổi. Lý do cho việc sai lầm này là vì kẻ viết lại phần TGTL2 này chủ quan vì chữ “nhất” trong chữ Hán chỉ là một gạch ngang quá đơn giản nên dễ bị rơi rụng hơn nữa kẻ ấy có lẽ nghĩ rằng 20 hay 21 thì có hề gì đâu ngờ rằng ở Đại Việt suốt một thời gian dài nhà Trần mới có thi Hội chứ đâu phải mỗi năm mỗi thi; đồng thời mỗi kỳ thi đều được ghi lại trong lịch sử. Với những gì đã nêu rỏ ràng tác phẩm này (cụ thể là phần II/B) không thể do đệ tử thân tín hay người trong gia tộc viết được. 3 - Năm 1247 nhà Trần đặt ra danh hiệu Tam khôi để chỉ ba người xuất sắc nhất trong số thí sinh thi đổ theo thứ bậc cao thấp là: Trạng nguyên Bảng nhãn và Thám hoa (4). Vậy ông đổ khôi thủ có nghĩa là ông đổ trạng nguyên ngoài tài liệu TGTL2 này ta còn có nhiều chứng cứ cho thấy rằng ông đổ Trạng nguyên năm đó (1275) nhưng theo lịch sử khoa thi năm đó Trạng nguyên là Đào Tiêu Bảng nhãn khuyết danh và thám hoa là Quách nhẫn (5). Tại sao có điều này?. Rỏ ràng có bàn tay lông lá nào đó đã sửa đoạn này bởi vì nhà Trần mở khoa thi là để tìm kiếm người tài để phục vụ triều đình vậy tại sao trạng nguyên Đào Tiêu hầu như không để lại một danh tiếng gì. Trong khi đó Lý Đạo Tái thì làm đến quan Hàn Lâm (có lẽ tương đương bộ Ngoại giao bây giờ) tiếp sứ phương Bắc văn thư qua lại ngôn ngữ văn chương vượt cả lân bang ấy vậy mà không có tên trong khoa thi này. Như thế chí ít thì chổ khuyết danh đó là Lý Đạo Tái. Tuy nhiên với những gì đã nêu cùng nhiều chứng cứ về việc Lý Đạo Tái đã đổ Trạng Nguyên khoa thi năm Ất Hợi 1275 ta có thể nghĩ rằng : chổ khuyết danh đó chính là vị trí của Đào Tiêu. Nhưng tại sao lại có chuyện chuyển đổi và xóa bỏ này? Ai đã làm điều đó? Làm như thế với mục đích gì? Đó là những câu hỏi cần phải tìm hiểu. 4 - Có một điểm cần phải lưu ý là : Ở đoạn này đại từ để chỉ cho Ts Huyền Quang là “TỔ”. Tổng cộng 5 lần. II/B - Về chuyện Điểm Bích. Từ nửa trang 51b tới nửa trang 59b (17 trang). 1 –Toàn bộ phần viết về Huyền Quang là 22 5 trang mà riêng phần nói về Điểm Bích chiếm 17 trang như thế ta thấy phần này đã chiếm hết ¾ cuốn TGTL2 này. Vậy ta có thể nói rằng mục đích của cuốn TGTL2 này là viết về chuyện Điểm Bích. Chính vì vậy từ đây văn phong hoàn toàn khác với đoạn trước cách dùng từ cũng khác có những lầm lẫn mà từ đó ta có thể thấy rằng kẻ nhào nặn ra cái nội dung hổn hợp này chắc chắn không phải là người Việt và không viết trên đất Việt cho dù có mặt của một bài thơ Nôm. 2 - Trước tiên ta thấy đoạn này người viết theo lối tiểu thuyết chương hồi như kiểu Tam Quốc chí như: “khước thuyết Tổ thiếu thời(51a) khước thuyết sư khai sáng(53a ) khước thuyết sư chí Vân Yên(53b) khước thuyết Thị Bích đắc kim tử bái hồi gia(57b)- Lại nói về lúc trẻ của Tổ lại nói về khi sư khai sáng lại nói về sư đến chùa Vân Yên lại nói về khi Thị Bích được vàng rồi từ biệt về nhà”. So sánh truyện Tam Quốc diễn nghĩa “Khước thuyết Tào Tháo hồi quân khước thuyết Trần Đăng hiến kế vu Huyền Đức viết khước thuyết đế tại Lạc Dương v.v..- Lại nói về Tào Tháo lui binh lại nói Trần Đăng hiến kế Huyền Đức nói lại nói về vua tại Lạc Dương v.v.”. Rỏ ràng toàn bộ đoạn này được sáng tác rồi ghép vào cuốn TGTL2. 3- Do đây là một đoạn được sáng tác ra để đưa câu chuyện Điểm Bích vào với ý đồ nhập nhằng chuyện phụ nữ nên ngay đoạn đầu người viết đã chọn đoạn nói về chuyện nghị hôn của tổ lúc còn trẻ ở nhà để bắt đầu cho câu chuyện “khước thuyết tổ thiếu thời ……Sinh vương chi tôn”(51a) 4 - Chính vì vậy kể từ sau đoạn dẩn này người viết dùng đại từ “sư” (26 lần) thay vì “tổ” như đoạn trước để chỉ HQ . Điều này chứng tỏ nội dung đoạn này do một người khác sáng tác nên mới có sự bất nhất như vậy. 5 - TGTL2 viết “Tổ theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phụng Nhãn thấy Quốc sư Pháp Loa (1284 -1330) thuyết pháp sau đó dâng biểu ba lần từ quan được chấp thuận liền thọ giáo với Pháp Loa hiệu là Huyền Quang” (51b). Lúc này Huyền Quang đã 50 tuổi mà Pháp Loa nhỏ hơn Huyền Quang 30 tuổi có nghĩa là năm ấy chỉ mới 20 tuổi . Trong khi đó Pháp Loa xuất gia với Điều Ngự năm 1304 lúc 21 tuổi (6). Như vậy Pháp Loa này là Pháp Loa nào? cũng trong đoạn này người viết lại dùng “Quốc sư Pháp Loa” lẽ nào Pháp Loa làm quốc sư khi chưa đi tu. Điều này một lần nữa chứng tỏ người viết lại cuốn sách này không ở tại nước Việt. 6 - Do không phải là người Việt nên người viết đoạn này không biết rằng “Điều Ngự Giác Hoàng” là Đạo hiệu của Trần Nhân Tông (1258 -1308) sau khi đi tu chứ không phải là hiệu của vua do đó mới sửa “Điều Ngự Giác Hoàng” thành “ Điều Ngự hoàng đế (52a)”. 7 - “Ngày rằm tháng giêng năm Quý mão”(52b). Đúng ra là năm Quý sửu nhưng người viết nhầm thành Quý mão việc nhầm lẫn này không phải không có lý do. Như ta biết Huyền Quang sinh năm Giáp dần như vậy năm ông 60 tuổi là năm Quý sửu nhưng ở đây nhầm thành Quý mão nguyên do là vì chi Dần nằm giữa hai chi Sửu và Mão (Sửu – Dần – Mão)theo cách tính tuổi can chi trên bàn tay thì khi một ai đó nói năm nay tôi 60 tuổi. thì người tính biết ngay là chi tuổi của người đó nằm liền phía sau chi năm đó vì vậy năm đó là Quý sửu Huyền Quang 60 tuổi chi Dần là hoàn toàn chính xác. Trong trường hợp này thì người viết lại cuốn TGTL2 này không phải viết vào năm Quý sửu mà có thể viết rất nhiều năm sau đó nên lấy chi tuổi (dần)của Huyền Quang để tính ngược lại nên mới có sự nhầm ra là Quý Mão vì chi Mão nằm sau chi Dần. Việc quan tâm tới tuổi của Huyền Quang là có dụng ý nên sau đó người viết đã lập lại “ khước thuyết sư chí Vân Yên chính quý sửu niên thời sư lục thập tuế”. Lại nói Sư đến Vân Yên đúng vào năm Quý Sửu lúc đó Sư 60 tuổi”. Rỏ ràng người viết muốn nhấn mạnh độ tuổi hay ta có thể hiểu ý người viết là “ 60 tuổi rồi mà…” vì đây là đoạn bắt đầu chuyện Điểm Bích với những chi tiết như một truyện ngắn cho tới “ Xưng vi tự pháp – gọi là nối pháp(59b)”. II/C - Nói về thời gian cuối đời của ông. Từ nửa trang 59b tới nửa trang 60a (1 trang). Trong đoạn này người viết do nối hai đoạn lại với nhau nên vẫn còn dùng đại từ “sư” cho đến câu cuối cùng mới dùng “Tổ”(1 lần ) “Thị nhật vi Tổ kỵ nhật” việc này cũng như đoạn nối đầu cũng dùng “tổ” sau mới dùng “sư” để chỉ Huyền Quang đó là cách làm cho liền lạc văn mạch. Nếu là đệ tử lẽ nào viết về nhưng năm tháng cuối đời của thầy mình quá ư đơn sơ như vậy. KẾT LUẬN : 1 - Căn cứ vào lối hành văn cách dùng từ việc liệt kê các tên họ chức vụ công trạng những vị tiền hiền của thiền sư Huyền Quang ở đoạn II/A và sự liệt kê cụ thể ngày tháng năm ông mất tại đoạn II/C ta có thể tin rằng hai đoạn này tuy có sửa đổi đôi chút nhưng hầu hết là được chép lại từ phần đầu và phần cuối của sách TGTL1 trong cuốn Bản Hạnh Ngữ Lục; Đồng thời căn cứ vào tên sách TGTL cùng cách xưng hô “Tổ” ở đoạn đầu và cuối ta có thể tin rằng người viết sách TGTL1 là đệ tử xuất gia của ông có thể là An Tâm vì chỉ có người xuất gia và đệ tử mới dùng từ “Tổ” cho thầy mình. 2 - Với đoạn II/B . A - Như đã phân tích trên với cách hành văn kiểu tiểu thuyết chương hồi của Trung quốc cách xưng hô hoàn toàn khác với đoạn II/A và II/C “sư” thay cho “tổ” cùng nhiều nhầm lẫn khác ta có thể nói chắc rằng đoạn này đã được ai đó sáng tác rồi đưa vào cuốn TGTL1 làm thành cuốn TGTL2 với nội dung chủ yếu là chuyện Điểm Bích như ta đang biết ngày nay. – Chỉ riêng dung lượng của đoạn này đã chiếm ¾ sách TGTL2 lẽ nào đệ tử viết cuốn sách với tiêu đề TGTL lại sử dụng hầu hết nội dung để nói về nàng Điểm Bích một cách tường tận như thế từ nơi sinh ra lớn lên tính tình đọc phần này ta thấy người viết câu chuyện này nhất định là người thân của Điểm Bích và là một trong những quan đầu triều. Bởi vì nếu không như thế thì làm sao mà biết quá rỏ sự việc như vậy. Tất nhiên nói như thế là hoàn toàn chính xác vì nàng Điểm Bích do những kẻ ấy đẻ ra cái triều đình ấy cũng do họ dựng nên thì tất cả với họ chỉ là một mà thôi. B – Đặc biệt trong đoạn này lại nói đến chuyện nàng giỏi “quốc ngữ” theo tôi hiểu quốc ngữ ở đây là “Chữ Nôm” đây là kỷ thuật thông báo trước chuẩn bị cho việc xuất hiện bài thơ Nôm tại phần cao trào mà thôi.Tuy nhiên chính sự xuất hiện của bài thơ Nôm này cho ta biết rằng đoạn thêm vào này không thể không có sự giúp sức của tay sai người Việt. Đồng thời nó đã nói lên đoạn II/B được viết vào thời Lê hoặc sau đó vì Hoàng Phúc mang sách này về Kim Lăng sau khi họ chiếm Đại Việt bắt cha con Hồ Quý Ly mà như lịch sử cho biết chỉ đến thời Hồ Quý Ly ông mới đề cao và gọi chữ Nôm là Quốc ngữ. (7) C - Như đã phân tích trên đoạn II/B(chuyện ĐB) này là được thêm vào do đó nếu ta bỏ đoạn II/A và II/C thì cũng không ảnh hưởng gì nội dung của đoạn II/B này vì tự nó đã là một tác phẩm rồi. Như vậy mục đích những kẻ tạo ra câu chuyện ấy là gì? Ta có thể nói rằng những người thực hiện âm mưu này hết sức khôn ngoan thay vì nói xấu thì cuối cùng lại đưa ra giải pháp giải oan mù mờ bởi vì nếu không kết như vậy thì người đọc quá dễ nhận ra phần giả mạo nhưng cho dù như thế thì họ cũng đã đạt được mục đích mà họ mong muốn đó là : Một mũi tên nhưng bắn được nhiều mục tiêu: 1 - Vua tôi nhà Trần chẳng chính nhân quân tử gì! Ngay cả một trạng nguyên hai nước như Mạc Đỉnh Chi mà lại tham mưu cho vua những chuyện mà một kẻ bình thường cũng không nên làm. Đồng thời vẽ nên hình ảnh triều đình nhà Trần như những kẻ vô công rổi nghề. Chính kẻ viết phần này cũng đã dùng ngay chuyện Điểm Bích để nói điều đó. Vua nghe nói thì lòng buồn không vui than rằng. “Việc này nếu có thật thì chỉ là cái kế ngang qua cửa giăng lưới bắt chim của ta nếu không thì ông ta cũng khó tránh được mối ngờ “ngồi xỏ giày nơi đám ruộng dưa”(58b). Đồng thời làm cho hậu thế nghĩ rằng ngay cả cha mình thái thượng hoàng là thiền sư nhưng vua quan nhà Trần cũng chẳng thích gì Phật giáo mục đích là gây chia rẽ giữa triều đình với Phật giáo ít ra là người bình thường sẽ nghĩ như vậy. 2 - Thông qua sách TGTL2 họ đã xây dựng một hình ảnh thiền sư Việt Nam chủ yếu là cúng bái hay nói khác là mê tín dị đoan. Điều này không phải chỉ xảy ra với HQ mà trước đó ta có Minh Không Không Lộ Giác Hải cũng được xây dựng hình ảnh như vậy từ những truyền thuyết của những kẻ ném đá dấu tay. 3 - Đánh vào Huyền Quang là đánh vào tổ chức Phật giáo đời Trần nói rộng là Phật giáo Việt Nam. Bởi vì chỉ duy nhất ở Việt Nam và đời Trần mới có Vua đi tu Trạng nguyên cũng đi tu. Câu chuyện Điểm Bích với một cái kết không rỏ ràng là một đòn tung hỏa mù vào lịch sử truyền thừa của thiền phái Trúc Lâm. Điều này không phải không có tác dụng vì ngày nay có nhiều kẻ cho rằng cho dù có biện minh gì thì khó mà nghĩ rằng chuyện đó không có thật thậm chí có kẻ viết sách than phiền rằng tu hành mà quá nghệ sĩ tay cầm dùi mõ tay ống sáo thì làm sao mà truyền bá đạo pháp rộng rãi được nên Phật giáo đời Trần từ sau Huyền Quang suy vong dần là có phần lỗi của ông. 4 - Huyền Quang lớn hơn Trần Nhân Tông 2 tuổi đổ trạng nguyên rồi ra làm quan trong thời gian này nước Việt tiến hành hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông(1285 1287)đều đưa đến thành công. Chắc chắn với tư cách là quan đương triều ông đã tham mưu cố vấn cho Trần Nhân Tông nhưng không thấy lịch sử ghi lại về ông trong trong giai đoạn này có thể ông đã là một trong những nhân vật đóng góp nên cuộc chiến thắng nên sau khi hòa bình lập lại qua con đường tiệm tiến đối phương đã dùng chính người đồng liêu của ông gây trở ngại cho ông cũng nên phương thức này không bao giờ cũ cả có thể vụ án vườn Lệ Chi cũng không ngoài sách lược này. Ngay cả đến khi xuất gia được giao phó kế thừa thiền phái Trúc Lâm ông cũng phải từ chối cho dù sở học của ông có thừa. Là một người xuất gia tại sao ông không làm nhiệm vụ thiêng liêng đó rỏ ràng phải có một áp lực nào đó khiến ông thấy rằng không thể kế thừa. Việc xóa tên ông trong lịch sử và bôi nhọ nhắm vào ông thông qua tác phẩm TGTL2 này đã thể hiện một phần điều đó. Đây không phải là chuyện tình cờ mà là một sách lược lâu dài của nhiều triều đại phương Bắc nhắm vào nền văn hóa của nước ta. Tóm lại với những luận chứng đã nêu trên cho thấy chuyện Điểm Bích nằm trong cuốn TGTL2 là một trứng tu hú trong tổ chim sâu một công việc đánh lận con đen xây một ngôi nhà với cửa ngỏ là Việt nam nhưng toàn bộ nội thất là Trung quốc đây là một âm mưu một tính toán cực kỳ tinh khôn và thâm hiểm. Chúng ngụy tác câu chuyện rồi xóa bớt nội dung trong bản TGTL1 thêm phần đã bịa vào rồi đưa trở lại nước Việt với ý đồ như đã nêu trên; tất nhiên là chúng đã thành công nhất định không thành công sao được khi câu chuyện ấy làm tổn hao bao tâm sức và giấy của người Việt chúng ta. Tuy nhiên không phải chúng làm công việc ấy hoàn hảo với những gì tôi đã nêu trên đã chứng minh cho điều đó. Đồng thời chắc chắn trong số sách vở của Đại Việt mà Trương Phụ và Hoàng phúc vơ vét chắc chắn có cuốn Bản hạnh ngữ lục với đầy đủ những tác phẩm của Thiền sư Huyền Quang nhưng những phần đó đã vĩnh viễn ở lại Kim Lăng hoặc bị tiêu hủy hoặc đưa vào sách của họ nhằm chiếm quyền trước tác bài Xuân nhật tức sự là một minh chứng./. Linh Sơn Đà lạt Đầu xuân năm Tân mão. 1 – Tam Tổ thực lục –phần TGTL chữ Hán trang 134/49a - 111/60b Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành 1995. 2 – Tam Tổ Trúc lâm giảng giải. tr 537 HT . Thích Thanh Từ. NXB 1997 3 – ĐVSKTT quyển 2 trang 57 nxb Văn hóa Thông tin 4 – ĐVSKTT quyển 2 trang 27 28 nxb Văn hóa Thông tin 5 – ĐVSKTT quyển 2 trang 57 nxb Văn hóa Thông tin. 6 –Tam Tổ thực lục –phần chữ Hán trang 202/16b - 203/17a Viện nghiên cứu Phật học Việt nam ấn hành 1995. 7 – ĐVSKTT quyển 2 trang 291 nxb Văn hóa Thông tin.

More...

Hoài Bảo của Lý Công Uẩn qua một bài thơ

By Viennhu


1000 năm Thăng Long nhìn lại

HOÀI BÃO LỚN CỦA LÝ CÔNG UẨN

QUA MỘT BÀI THƠ

                                                                                                                Viên Như

Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (974 - 1028) người đã khai sinh ra triều đại nhà Lý trải qua hơn 200 năm đây là triều đại tiêu biểu cho tinh thần độc lập của nước Việt qua việc xây dựng một nhà nước vững mạnh đó chính là kết quả có tính kế thừa của một quá trình hơn 60 năm điều chỉnh từ ý thức kháng chiến dành độc lập bằng con đường vũ lực (võ) sang phương thức trị nước bằng hệ thống tổ chức hành chánh (văn). Sau khi lên ngôi ông đã làm thay đổi vận mệnh quốc gia qua việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La rồi đổi tên thành Thăng Long với Chiếu dời đô mà âm vang của nó vẫn còn vang vọng đến ngày nay.

Một con người hiển hách như thế nhưng xuất thân từ chốn quê nghèo lại được nuôi dưỡng  nơi cửa Phật. Từ chốn cửa thiền ông lớn lên rồi tham gia triều chính và cuối cùng trở thành vị vua anh minh lỗi lạc của nước Việt nhưng cũng chính vì xuất thân từ nhà chùa như thế nên ngày nay còn lại không ít những truyền thuyết về con người ông với mệnh đế vương từ tấm bé qua việc ông không cho ngài Hộ Pháp ở chùa bằng cách viết vào sau lưng ngài dòng chữ "đày đi 3000 dặm" khiến cho ngài Hộ Pháp phải báo mộng cho vị Trú trì để gỡ tội cho mình hay qua bài thơ "Tức cảnh" với truyền thuyết rằng lúc nhỏ Lý Công Uẩn hay nghịch một hôm bị thầy phạt trói bắt nằm dưới đất. Đêm khuya muỗi không ngủ được cậu liền tức cảnh ngâm bài thơ rằng:

     

        即景

天為衾枕地為氈
日月同雙對我眠
夜深不敢長伸足
山河社稷顛

Thiên vi khâm chẩm địa vi chiên

Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên

Dạ thâm bất cảm trường thân túc

Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên.

Trời làm chăn gối đất làm nệm

Trời trăng cùng đối diện giấc ngủ của ta

Đêm tối quá không dám duỗi dài chân

Chỉ sợ núi sông đất nước rối loạn.

Bài thơ này được ghi lại trong Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề. Tuy nhiên một lần nữa trong văn học Việt Nam lại có bài thơ lại trùng với bài thơ của Trung Quốc (TQ) cụ thể là của Minh Thái Tổ tức Chu Nguyên Chương (1328-1398) trong sách Anh Liệt truyện không có tác giả do Triệu Cảnh Thâm và Đỗ Hạo Minh hiệu chú Thượng Hải văn hóa xã xuất bản năm 1957. Tương truyền rằng thuở hàn vi Chu Nguyên Chương nương nhờ chùa Hoàng Giác được Phương trượng chùa thương mến cũng chính vì vậy mà ông đã bị các người trong chùa đố kị vì thế một hôm họ đóng cửa khiến ông phải ngủ ngoài tức cảnh này ông đã sáng tác bài thơ.

即景

天為羅帳地為氈
日月星辰伴我眠
夜間不敢長伸足
踏山河社稷穿

Thiên vi la trướng địa vi chiên

Nhật nguyệt tinh thần bạn ngã miên

Dạ gian bất cảm trường thân cước

Khủng đạp sơn hà xã tắc xuyên.

Trời làm màn lớn đất làm nệm

Mặt trời trăng sao là bạn của giấc ngủ ta.

Trong đêm không dám duỗi dài bàn chân

Sợ đạp xuyên cả núi sông đất nước.

Do hai con người này có xuất thân và sự nghiệp gần như giống nhau - Thuở hàn vi đều nương nhờ cửa Phật - Sau cũng đều là vua khai sinh ra một triều đại mới. Nên bối cảnh ra đời của bài thơ được lưu truyền lại hầu như giống nhau ngôn từ của bài thơ cũng thế khiến cho người đời sau không biết bài thơ đích thực là của ai. Ở nước Việt có lẽ vì lòng tự tôn dân tộc có người cứ trích dẫn và mặc nhiên xem như của Lý Công Uẩn nhưng có người cẩn thận hơn thì lại có khuynh hướng cho rằng bài thơ này vốn của họ Chu ta chỉ tiếp thu rồi nhuận lại hay nói thẳng ra là bài ấy của Trung Quốc ta lấy (nếu không ai biết thì coi như đạo thơ) rồi sửa lại đôi chút mà thôi. Đây không phải là trường hợp duy nhất mà còn rất nhiều bài thơ hay ở nước ta trùng với bài thơ ở TQ  một số  người cho rằng ta "nhuận" lại của TQ. Tất nhiên cho dù có tự tôn dân tộc bao nhiêu chăng nữa thì vấn đề hai bài thơ giống nhau là một thực tế hiển nhiên nhưng bảo rằng ta nhuận sắc từ bài thơ của TQ thì theo thiển ý của tôi là cần phải xem lại nhận định này. Trong suy nghĩ như vậy trong bài viết này tôi thử tìm hiểu xem bài thơ này là của Lý Công Uẩn hay ta nhuận lại của TQ.

Trước hết ta hãy tìm hiểu nội dung bài thơ của Lý Công Uẩn.

Câu 1: "Thiên vi khâm chẩm địa vi chiên". Trời làm chăn gối đất làm nệm

Ông nói "Trời làm chăn gối đất làm nệm" Chăn nệm gối là vật đồng hành với con người đi vào giấc ngủ là chứng nhân cho biết bao giấc mơ thầm kín của con người những gì bí mật nhất của con người khi chưa biết giãi bày cùng ai thì chỉ biết tâm sự cùng chăn gối. "Thập niên chẩm thượng trần trung mộng bán dạ đăng tiền vật ngoại tâm - Mười năm ôm gối mộng đời nửa đêm chợt ngộ vật thời ngoài tâm" hay "Vô phi nhất chẩm mộng trung xuân - Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân"(Chinh phụ ngâm). Đó là chiếu chăn thông thường ở đây tác giả lại lấy trời làm chăn gối đất làm nệm thân nằm dưới đất mà đầu gối ở trên trời như vậy kích thước của giấc mộng lớn đến nỗi phải có tấm chăn lớn rộng như trời mới che không cho ai thấy được thì xem ra giấc mộng này là giấc mộng thay đổi giang sơn chứ đâu phải thường nó lớn bởi vì thành công thì vinh hiển mà thất bại thì hậu quả khôn lường tuy cường điệu hóa để thể hiện sự lớn lao quan trọng của cái hoài bão mà tác giả đang ấp ủ nhưng vẫn hoàn toàn phù hợp với quy luật tư duy cách dùng từ trong câu này hoàn toàn phù hợp trong trường liên tưởng của từ "ngủ". Ngay từ câu đầu này tác giả đã cho người đọc biết rằng có một điều ông không thể nói thẳng ra nhưng nó hiện diện sau những ngôn từ mà ông sử dụng. Nó là gì? Nó là một giấc mơ một hoài bão hay nói một cách tiêu cực thì nó là một âm mưu.

Câu 2 : "Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên". Trời trăng cùng đối diện giấc ngủ của tôi.

Theo tôi thì "nhật nguyệt" ở đây có nghĩa là "ngày tháng" và "song" là "cả hai" hay "cùng chung" hay theo nghĩa trong bài "khi nào cũng luôn luôn". Vì sao như vậy? Vì nếu "nhật nguyệt" là mặt trời và mặt trăng thì đêm làm sao có mặt trời mà đối với giấc ngủ được và "song " là cửa sổ  (theo sách trong Thơ văn Lý Trần) như vậy lẽ nào khi ngủ tác giả cũng quay về cửa sổ và chỉ ở đó mới có mặt trời và mặt trăng. Như vậy "đồng song " có nghĩa "cả hai cùng khi nào cũng" hay "luôn luôn". Rõ ràng trong câu thơ này tác giả đã thật khéo léo dấu cái hoài bão mà tác giả không thể nói ra một cách tách bạch được nên trong câu này tiếp ý câu trước tác giả đã tiếp tục dấu hoài bão ấy đi cái hoài bão mà ta hiểu là "hoài bão lớn" ấy khi nào cũng nung nấu trong tâm tác giả. Ta có thể hiểu câu này là "trải bao ngày tháng khi nào hoài bão ấy vẫn luôn được ấp ủ trong lòng tôi".

Câu 3 :  "Dạ thâm bất cảm trường thân túc". Đêm tối quá không dám duỗi chân dài.

Sang đến câu này thì ta thấy nhà thơ đã cho ta biết vì sao chưa thực hiện hoài bão lớn mình được ấy là vì đêm tối quá tối quá thì không thấy được đường đi không nhìn thấy mặt người không phân biệt được ai quen ai lạ ai thuộc về ai nên không dám hành động hay ta có thể nói rằng "đêm tối quá" là tình hình khách quan và "Duỗi dài chân" là chủ quan như vậy tình hình khách quan chưa rõ ràng chưa đủ điều kiện chưa chín muồi nên chưa dám chủ quan tiến hành bạo động được.  Đêm tối ấy là cái tình hình của triều đại Lê Ngọa Triều lúc ấy tâm trạng các quan trong triều ra sao vẫn chưa biết được rỏ ràng nên Lý Công Uẩn chưa dám có động tĩnh gì điều này ta có thể thấy trong Đại Việt sử kí toàn thư khi Vạn Hạnh thiền sư khuyên Lý Công Uẩn nên nắm lấy triều chính thì tức khắc ông đã bị Lý Công Uẩn cho người đưa về an dưỡng tại chùa Tiêu Sơn hay khi  Đào Cam Mộc đề nghị Lý Công Uẩn mau nắm lấy quyền hành thì Lý Công Uẩn liền đe sẽ báo quan bắt. Bởi vì như đã nói ở trên nếu thực hiện hoài bão này không thành công như mong muốn thì hậu quả sẽ khôn lường.

Câu 4 : "Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên" . Chỉ sợ sơn hà xả tắc rối loạn.

Như  vậy là cuối cùng nhà thơ đã cho biết lý do mà cái hoài bão của ông vẫn còn ngủ yên trước hết là vì tình hình chưa chín muồi (Câu 3) vì thế nên ông sợ. Ông sợ gì? Ông sợ đất nước sẽ điên mà đã điên lên rồi thì còn đâu nữa an bình điên thì chuyện giết người cướp của bao nhiêu chuyện phi luân sẽ xảy ra một người điên có vũ khí quyền lực thì đã quá nguy hiểm rồi huống chi cả đất nước điên hậu quả rõ ràng không thể lường được. Xã hội sẽ phân hóa hận thù chia rẽ sẽ lên cao tiềm lực nước nhà sẽ suy yếu trầm trọng mà nếu như thế thì bao nhiêu công sức của Ngô Quyền Đinh Bộ Lĩnh Lê Hoàn sẽ tan thành mây khói bởi vì đây là thời kì mà nỗi lo thường trực của nước Việt không phải là cơm ăn áo mặc mà chính là nếu suy yếu đi thì sẽ là cơ hội cho phương bắc tái lập ách đô hộ mà họ đã đánh mất sau một ngàn năm thống trị hay nói khác hơn ông sợ nếu thực hiện hoài bão ấy không khéo thì sẽ đánh mất nền độc lập non trẻ một nền độc lập mà cả dân tộc trải qua ngàn năm đổ bao xương máu mới dành lại được.

Qua phân tích ta thấy rõ ràng bài thơ này nói lên tâm trạng của Lý Công Uẩn trong thời gian ông chuẩn bị thay nhà Lê lập lên nhà Lý một triều đại có tính nhân văn nhất cho đến nay. Bài thơ thật đẹp thật hay hình ảnh ngôn từ mà tác giả dùng trong bài thơ tạo nên một chỉnh thể xuyên suốt làm cho người đọc cảm nhận được một con người có chí khí với một hoài bão lớn lao nhưng hành động hết sức có trách nhiệm với giang sơn đất nước. Bài thơ này do Lý Công Uẩn sáng tác hay do người đời sau làm rồi gán cho Lý Công Uẩn ta không biết ta chỉ biết rằng người xưa đã bảo đó là của Lý Công Uẩn thì ta tin rằng bài thơ này là của ông hay tôi tạm gọi là của Việt Nam (VN) nhưng nhất định bài thơ này không thể được sáng tác trong hoàn cảnh như nó được lưu truyền .

Như đã đề cập trên bài thơ này lại trùng với một bài thơ của TQ vì vậy mà nhiều người cho rằng bài thơ ở VN chỉ là nhuận sắc bài thơ của TQ. Vậy ta thử tìm hiểu xem bài thơ của TQ sáng tác như thế nào để có kết luận ai nhuận của ai.

Câu 1 :  "Thiên vi la trướng địa vi chiên". Trời làm màng lớn đất làm nệm

Câu đầu này tác giả nói "Trời làm màn lớn đất làm nệm". Câu này cung cấp cho người đọc một hình ảnh một người nằm trên mặt đất nhìn lên trời cao chung quanh trống trơn không gì che đậy. Với ngôn từ như vậy ta thật khó mà tìm ra một ẩn ý nào bên trong có chăng thì người ta có thể cho rằng ý tác giả nói rằng: Con người đang nằm giữa trời đấy đó là một ông lớn thế thôi. Tuy nhiên về mặt tính hợp lý trong trật tự tư duy thì ta thấy câu này không ổn bởi vì:

1 - Khi nói đến "ngủ" là phải liên quan đến giường chăn gối đệm chứ màn không phải vật dụng phục vụ cho việc này đặc biệt nằm ngoài trời như thế mà không cần chăn gối thì quả là lạ. Do đó dùng từ "màn lớn" ở đây là không phù hợp với trường liên tưởng của từ "ngủ" vì vậy nó có tính khiên cưởng.

2 - Nếu cho rằng ý tác giả muốn nói rằng người nằm đó có một giấc mơ một hoài bão lớn sau này có thể làm thay đổi giang sơn thì cái màn lớn hay cái nệm không có khả năng gợi ra điều ấy bởi vì muốn nói đến sự ấp ủ thì lấy chiếu chăn hay ước mơ thầm kín thì gối là biểu tượng còn màn trời chiếu đất thì chỉ cho sự tan hoang lạnh lẽo.

Câu 2 : " Nhật nguyệt tinh thần bạn ngã miên". Mặt trời trăng các vì sao là bạn giấc ngủ của tôi.

Như vậy " Nhật nguyệt" ở đây phải hiểu là mặt trời và mặt trăng không thể hiểu là ngày tháng (thời gian) được vì trong câu này ngoài mặt trời mặt trăng ra còn có muôn ngàn vì sao nữa nên chi những từ này chỉ có nghĩa là những tinh tú trên trời mà thôi mà nếu như vậy thì ban đêm làm sao có mặt trời mà làm bạn cùng giấc ngủ do vậy từ "nhật"ở đây có vấn đề. Vấn đề theo tôi là người ta đã xóa đi hai chữ "đồng song" để thay vào đó hai chữ "tinh thần" khiến cho từ "nhật" có nghĩa là "ngày" hay "thời gian" thành ra "nhật" là "mặt trời" hay "hành tinh".

Câu 3 : "Dạ gian bất cảm trường thân cước". Trong đêm không dám duỗi dài bàn chân.

Cước là bàn chân là bộ phận cuối cùng của chân từ mắt cá trở xuống do đó nó có kích thước cố định nên không thể duỗi dài ra thâu vào một cách vô thức được đặc biệt khi ngủ. Hay nói khác hơn co duỗi trong khi ngủ là co duỗi theo bản năng thì chỉ có co duỗi chân (túc) mà thôi. Vì vậy từ "cước" được dùng trong võ thuật với nghĩa là ‘đá". Có nghĩa là nó được thực hiện bởi sự cố ý của con người khi dùng bàn chân như là vũ khí cho nên dùng ‘cước" ở đây là hoàn toàn vô lí. Đã vậy lí do cho việc không duỗi dài bàn chân là vì "trong đêm". Như phân tích ở trên "trong đêm" ở đây là điều kiện khách quan vậy nếu điều kiện khách quan là "trong đêm" mà không dám duỗi bàn chân thì cần phải đợi đến lúc ban ngày chăng? Mà nếu như thế thì câu 1 và 2  trở thành vô nghĩa. Ở đây hoàn cảnh khách quan là đêm cho dù có không dám chăng nữa thì người nằm đó cũng nằm trong đêm rồi (hoàn cảnh của bài thơ) nên nói "Trong đêm không dám duổi dài bàn chân" là hoàn toàn vô lý cũng như ta nói " không dám tắm vì đang bơi trong hồ nước vậy".Rỏ ràng cách dùng từ ở đây có vấn đề. Vấn đề ở đây là cái tính chất của đêm như : đêm tối quá không dám đi ra ngoài đêm lạnh quá không dám thức khuya đêm thanh vắng quá không dám ho mạnh đêm âm u quá không dám cựa quậy gì chứ đâu thể vì ban đêm suông thôi được. Như vậy trong câu thơ này thiếu mất cái lí do hợp lí cho việc không dám duỗi bàn chân lí do đó nằm ở chỗ người ta đã đưa từ "gian" để thay cho từ "thâm" nên mới ra cớ sự ấy.

Câu 4: " Khủng đạp sơn hà xã tắc xuyên".

Sợ đạp xuyên sơn hà xã tắc. Câu trên đã nói không dám duỗi bàn chân tiếp đến lại sợ đạp đã duỗi thì khỏi đạp chứ sao chỉ một bàn chân mà vừa duỗi vừa đạp. Đã sợ thì sợ cái gì chứ sao sợ đạp có thể sợ "bị đạp" nhưng trong trường hợp này thì không thể vì việc duỗi chân đã đặt chủ thể bài thơ vào thế chủ động rồi. Hơn nữa nếu câu kết với động từ "xuyên" là kết quả của sự vừa duỗi bàn chân vừa đạp thì thông điệp mà bài thơ gởi tới người đọc là bàn chân ấy mạnh lắm ông ấy mạnh lắm chỉ duỗi bàn chân là xuyên cả sơn hà xã tắc thế thôi hay sơn hà xã tắc là nhỏ bé dưới bàn chân của ông ta chứ không lấy sơn hà xã tắc làm trọng cần lưu ý rằng theo truyền thuyết bài thơ này Chu Nguyên Chương viết khi còn ở chùa Hoàng Giác có nghĩa là chẳng có quyền hành gì. Qua phân tích trên nếu gắng gượng lắm thì ta có thể nghĩ rằng thông điệp mà bài thơ gởi tới người đọc là "Nhân vật được đề cập trong thơ là một người có mệnh đế vương nên chỉ cần nhích bàn chân là xuyên cả sơn hà xã tắc". Tuy nhiên ta thấy rằng ngôn từ dùng trong bài thơ này hết sức khiên cưỡng từ đó dẩn đến ý từng câu thơ nhiều khi mâu thuẫn nhau dĩ nhiên khi đã như thế thì khó mà có được một chỉnh thể trong tác phẩm đây chính là hậu quả của việc sửa lại từ một bài thơ khác với dụng ý là chiếm lấy quyền trước tác do vậy bài thơ của TQ không thể là chính bản. Hơn nữa Chu Nguyên Chương là một nhân vật lịch sử lớn của TQ đã khai sinh ra triều đại nhà Minh người được biết với tên Minh Thái Tổ vậy sao tác phẩm của ông ta không được ghi vào sử sách mà lại rơi rớt ngoài nhân gian.

Năm nay 2010 là tròn 1000 năm Lý Công Uẩn định đô tại Thăng Long việc dời đô đó bắt đầu từ cái hoài bão một cuộc cách mạng lớn lao như bài thơ đã mô tả nhưng lớn lao hơn nữa là đã ông thực hiện hoài bão đó một cách có trách nhiệm không phải vì quyền lực đang có của mình và ngai vàng trong tương lai mà mê mờ rồi nóng vội. Bởi vì nếu sơ suất thì hậu quả sẽ là nghiêm trọng tối thiểu cũng nồi da xáo thịt xa hơn nữa là cơ hội cho thế lực ngoại bang thừa cơ lập lại sự thống trị mà chúng buộc phải từ bỏ trước sự kiên trì nhẫn nại không tiếc xương máu quyết dành cho được độc lập cho nước nhà của bao thế hệ người dân Việt. Tóm lại với những gì tôi đã trình bày tôi cho rằng bài thơ này là của VN hay cụ thể là của Lý Công Uẩn chứ không thể có chuyện "nhuận sắc" được mà đã là của VN thì trả lại cho VN hay đã là của Lý Công Uẩn thì phải trả về cho Lý Công Uẩn./.

More...

Vận nước rồi sẽ ra sao?

By Viennhu


VẬN NƯỚC

   RỒI SẼ RA SAO ?

   Ngàn năm Thăng Long nhìn lại

  Viên Như

         Đà lạt 28/4/10

Năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng kết thúc 1000 năm Bắc thuộc bắt đầu thời kì tự chủ tiến tới xây dựng nền độc lập cho nước ta. Tuy nhiên tinh thần độc lập của nước Việt không phải bắt đầu từ sau chiến thắng ấy mà nó đã  tồn tại trong suốt thời gian Bắc thuộc được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa của bà Trưng bà Triệu cho đến Phùng Hưng rõ ràng tinh thần quyết dành  độc lập của dân Việt luôn được nuôi dưỡng chắc chắn đó là đề tài luôn được người dân Việt bàn bạc sau lũy tre làng trên những cánh đồng hay trong những câu chuyện đêm đêm bên bếp lửa. Tuy nhiên do chưa có một nhà nước để thống nhất các lực lượng nên đã có nhiều nhóm hoạt động chứ không phải chỉ có phe nhóm của Ngô Quyền chính vì vậy sau khi Ngô Quyền dành được độc lập chắc chắn có nhiều phe nhóm cho rằng họ cũng có phần trong chiến thắng ấy và xứng đáng được chia xẻ quyền lực. Tuy nhiên chế độ quân chủ phong kiến không bao giờ cho họ cơ hội ấy hậu quả là những chống đối ra mặt hoặc âm thầm thách thức quyền lực của nhà nước non trẻ. Như thế là ngay từ những ngày đất nước bước vào thời kỳ tự chủ đầu tiên Ngô Quyền không những đối mặt với những khó khăn từ phương bắc mà còn  đến từ những người đồng bào của ông hậu quả là sau khi Ngô Quyền mất Dương Tam Kha dành lấy quyền bính khiến cho Ngô Xương Ngập phải sang cầu cứu phương bắc đến khi Ngô Xương Xí lấy lại quyền hành thì lại rơi vào tình trạng "hai vua" và hệ quả là "nước không có ai làm chủ" như trong chính sử đã ghi. Không ai làm chủ có nghĩa là nhiều người làm chủ cụ thể là loạn 12 sứ quân. Nhà Ngô mất. Sau khi dẹp được 12 sứ quân Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi rồi bị chính gia nhân của mình là Đỗ Thích giết cũng với giấc mộng làm vua. Nguyễn Bặc giết Đỗ Thích rồi Lê Hoàn giết Nguyễn Bặc. Lê Hoàn lên ngôi trong lúc nhà Tống viện cớ ủng hộ nhà Đinh chuẩn bị sang xâm lăng nước ta.

Kể từ khi Ngô Quyền lên ngôi cho đến khi nhà Đinh mất chỉ 4 thập niên trong một thời gian ngắn ngủi như thế mà biết bao biến cố xảy ra những biến cố ấy hoặc xuất phát từ những quyền lợi riêng tư của dòng họ hoặc phe phái vùng miền được sự ủng hộ trong nước nhưng chắc cũng có không ít phe nhóm được sự hổ trợ từ phương bắc nhằm làm suy yếu nước Việt trong khi họ còn phải lo thống nhất giang sơn tất cả những sự kiện ấy đã in sâu vào tâm khảm của Lê Hoàn nên sau khi lên ngôi trong nỗi lo ấy ông đã đem chuyện vận mệnh của đất nước mà cũng là vận mệnh triều đại của  ông hỏi thiền sư Pháp Thuận Pháp Thuận đáp :

"Quốc tộ như đằng lạc

  Nam thiên lý thái bình

  Vô vi cư điện các

  Xứ xứ tức đao binh."

Dịch nghĩa : 

"Vận nước như cây dây

  Trời nam mở thái bình

  Vô vi trong chính sách

   Chốn chốn hết đao binh."

Bài thơ này được xem như một tác phẩm văn học viết đầu tiên trong thời kỳ tự chủ của nước ta có người còn xem như tuyên ngôn độc lập chính vì tính chất quan trọng của nó nên bài thơ này đã được tìm hiểu và bình giảng bởi rất nhiều người. Như đã trình bày ở trên bối cảnh lịch sử khi bài thơ này ra đời là hết sức nhiễu nhương. Tuy trong chính sử không cho ta biết sau khi Lê Hoàn nắm quyền hành rồi lên ngôi ngoài các cận thần như Nguyễn Bặc và Đinh Điền Trịnh Tú Lưu Cơ Phạm Hạp ra còn có phe nhóm chống đối nào nữa không. Tuy nhiên theo bài thơ trên ở câu kết Pháp Thuận nói "Chốn chốn hết đao binh". Nói như thế có nghĩa là nhiều nơi trong nước đang loạn lạc. Còn nếu căn cứ vào bài sấm được lưu truyền thời ấy thì tình hình hết sức rối ren và bi đát. Bài sấm ấy như sau :

"Đỗ Thích thí Đinh Đinh

  Lê gia xuất thánh minh.

  Cạnh đầu đa hoạnh tử

  Đạo lộ tuyệt nhân hành."

Dịch nghĩa :

"Đỗ Thích giết hai Đinh

  Nhà Lê hiện thánh minh.

  Tranh nhau nhiều kẻ chết

  Đường xá người vắng tanh."

Như vậy ta thấy rằng nội tình nước Việt lúc bấy giờ hết sức đáng lo lại thêm phương Bắc lăm le đem quân vào đánh chiếm nước ta trước tình hình loạn trong giặc ngoài cùng với kinh qua những gì đã xảy ra trong cuộc đời làm tướng của ông và những gì đang xảy ra ngay chính thời đại mình Lê Hoàn làm sao không lo âu được. Câu hỏi của ông đặt ra là vận nước như thế nào Pháp Thuận không những hiểu được mối lo âu của Lê Hoàn về vận nước mà còn hiểu rằng Lê Hoàn đang hết sức bối rối trước những gì đang xảy ra nên không những ông trả lời câu hỏi của Lê Hoàn mà còn đề xuất những gì cần phải làm (câu 3 4) để thực hiện mong muốn "Nam thiên lý thái bình".

Câu hỏi là của một ông vua câu trả lời là của một thiền sư cố vấn của triều đình. Chính vì vậy cho dù ngôn từ của bài thơ có mang sắc thái nhà thiền chăng nữa thì nội dung vẫn không thể thoát ra khỏi tính chính trị của hoàn cảnh mà bài thơ ra đời. Trong suy nghĩ đó tôi cho rằng bài thơ này phải có trước năm 981. Bởi vì tình hình năm đó cho thấy quân dân ta đoàn kết một lòng mới thắng quân Tống thậm chí bắt cả tướng giặc như thế có nghĩa là vào thời điểm ấy Lê Đại Hành  đã ổn định được tình hình.  Ta thử tìm hiểu bài thơ này.

Câu 1 :  "Vận nước như cây dây ".

A- "Vận nước" là gì?

Vận :  1 - Sự vận động xoay vần không lúc nào dừng lại.

          2  - Vật gì quay vòng gọi là vận như "vận bút"

          3  - Vận số như ta nói vận may vận rủi.

(Từ điển Hán - Việt của Thiều Chửu tr 914).

Ta có thể hiểu rằng "Vận nước" là năng lực vô hình vận hành không ngừng bên trong một đất nước nó được biểu thị qua những gì  đã đang và sẽ phải xảy ra cho đất nước là kết quả của những tư duy hành động của tất cả những ai thuộc về đất nước ấy( chủ quan) đồng thời nó cũng có thể bị  chi phối bởi những điều  kiện bên ngoài do mối quan hệ mà đất nước ấy có liên quan như biên giới ngoại giao sự thay đổi của thiên nhiên (khách quan). Do đó khi đất nước thịnh thì ta gọi là vận nước thịnh lúc suy thì ta gọi là vận nước suy. Trong suy nghĩ như thế ta có thể nói rằng: Đoàn kết cũng ảnh hưởng tới vận nước không đoàn kết cũng ảnh hưởng tới vận nước từ "vận" là một từ trung tính vừa tốt vừa xấu vì vậy "vận nước" đâu chỉ là đoàn kết mà thôi.

B - "Đằng lạc"(cây dây) là gì ?

 Trong câu 1 này ta thấy Pháp Thuận đã dùng "cây dây" hoán dụ cho ‘vận nước" đây là một biện pháp tu từ mà như ta biết khi sử dụng một vật hình tượng màu sắc v.v.. để làm tu từ thì đối tượng ấy phải có một đặc tính phổ biến mới đáp ứng được tiêu chí làm một tu từ. Trong trường hợp này (cây dây) đâu là đặc tính  phổ biến của nó. Có phải " luôn quấn vào nhau không?" nếu "đằng lạc"là sợi dây thì tính phổ biến của nó đúng là "luôn quấn vào nhau" tạo nên sự vững mạnh bền chắc từ đó suy ra nó có nghĩa là đoàn kết còn nếu như nó là một loại cây như cây mây cây bìm cây sắn và các loại dây quấn khác thì có đặc tính phổ biến này không. Chắc là không. Vậy thì tại sao lại cho rằng "đằng lạc" là biểu tượng cho sự đoàn kết nếu nó không phải là sợi dây. Do vậy cho rằng cây mây cây bìm cây sắn mọc quấn vào nhau từ đó suy ra ý nghĩa đoàn kết là một hình dung thiếu thuyết phục (phổ biến) và khiên cưỡng. Hơn nữa đoàn kết là một yếu tố mà đã là người lãnh đạo quốc gia ai chẳng muốn đó là bài học tiên quyết của bất cứ ai muốn củng cố triều chính và đất nước Lê Hoàn cũng không ngoại lệ vì vậy lẽ nào Pháp Thuận lại khuyên Lê Hoàn một điều mà chính Lê Hoàn đã quá rỏ và rất mong muốn nhưng không thể. Đây chính là vấn đề mà tôi cho là bất cập.

Theo tôi "đằng lạc- cây dây" là loài cây dây leo nói chung. Có thể có hằng ngàn loại cây dây leo nhưng dù loại gì và mọc ở đâu chăng nữa thì đặc tính phổ biến của loại cây này là :  

•1-     Luôn phát triển về phía trước chủ yếu quấn vào cây sống cùng mảnh đất với nó.

•2-     Luôn linh hoạt gặp chổ bằng phẳng thì bò ngang gặp cây thẳng thì bò theo chiều thẳng gặp chướng ngại thì uyển chuyển tìm hướng khác để vươn lên phát triển về phía trước.

Như vậy tính phổ biến của loài cây "đằng lạc" là không ngừng phát triển trong chiều hướng linh hoạt tùy hoàn cảnh mà ứng xử miễn sao vẫn giữ được mục đích vươn tới của mình. Pháp Thuận là một thiền sư do đó ngôn từ và ý nghĩa mà ông xử dụng không thể không bị ảnh hưởng bởi nhà Thiền trong đạo Thiền với những tính cách của cây dây leo nói trên chính là biểu tượng cho tinh thần "tùy duyên bất biến" của đạo Phật.

Lịch sử cho biết Lê Hoàn có quan hệ tình cảm với thái hậu Dương Vân Nga nên sau khi lên ngôi đã lập bà làm một trong những hoàng hậu do đó việc Phạm Cự Lạng đề nghị tôn Lê Hoàn lên làm vua khi có Dương Vân Nga bên cạnh đồng thời chính bà khoát áo long cổn cho Lê Hoàn có thể là một màn kịch do Lê Hoàn và Dương Vân Nga dựng lên sau khi đã giết Nguyễn Bặc và Đinh Điền vì tội phản đối ông làm phó vương với âm mưu chuẩn bị chiếm quyền. Như vậy việc Lê Hoàn lên ngôi không thể không bị thần dân dị nghị thậm chí oán hận nên chi mới có nhiều nơi nổi dậy đến như vậy. Về phần mình là một võ tướng giết cả bạn bè mình với mong ước làm vua vậy mà khi lên làm vua nhờ vào một người đàn bà ban cho làm sao không cảm thấy hổ thẹn cho được. Trong nỗi niềm ấy cùng với ký ức về những triều đại vừa mới suy tàn thêm vào đó loạn lạc khắp nơi tất cả là một bài học trước mắt làm sao ông không cảm thấy lo âu được. Có thể ông đã thấy thấp thoáng thân phận của ông trong thân phận của Đinh Bộ Lĩnh và linh cảm rằng triều đại của ông rồi sẽ kết thúc không khác mấy so với các triều đại trước. Điều này chắc đã làm cho ông bao đêm mất ngủ cuối cùng ông mới thốt ra : " Vận nước rồi sẽ ra sao?". Biết được những lo âu của ông Pháp Thuận đáp "Vận nước như cây dây leo" phải linh động uyển chuyển tùy theo hoàn cảnh mà ứng xử miễn làm sao lèo lái con thuyền đất nước vượt qua sóng gió đi về phía trước là được. Trong thời gian này có thể với bản chất của một ông tướng vừa mới lên làm vua chắc là Lê Hoàn đã dùng vũ lực với nhiều người chống đối ông như đã làm với Nguyễn Bặc Đinh Điền Nhưng xem ra càng dùng bạo lực thì càng có nhiều chống đối nên chi Pháp Thuận mới khuyên ông hãy thức thời tùy theo hoàn cảnh mà hành động. Ví như trước chưa làm vua thì cư xử thô bạo còn chấp nhận được chứ nay đã là một ông vua mà ra tay như kẻ võ biền thì làm sao thu phục nhân tâm phải vận dụng tính linh hoạt hay tính tùy duyên mà ứng xử điều thiết yếu là vẫn giữ được tính độc lập tự chủ của đất nước đó mới là cái bất biến (tối quan trọng)của đất nước này.

Với tư cách là một ông vua chắc chắn ông mong muốn đất nước thái bình nhân dân an lạc nhưng với những gì đang xảy ra thì mong muốn ấy hết sức xa vời trước nhưng nhiễu nhương loạn lạc lòng người li tán như thế thì biết làm sao. Biết được nỗi lòng của Lê Hoàn như thế nên Pháp Thuận mới nói :

" Trời Nam mở thái bình".

Bệ hạ muốn đất nước thái bình ư? ai mà chẳng muốn thái bình nhưng muốn được như thế thì hãy lấy nhân nghĩa thay cường bạo hãy thôi tìm cách đàn áp người khác bằng vũ lực mà nên để tâm chỉnh đốn triều chính chỉ có cách ấy mới thuyết phục được nhân tâm chính sách mà bệ hạ nên làm là:

"Vô vi trong chính sách "

"Điện các" ở đây biểu tượng cho chốn công quyền cụ thể ở đây là  vua (Lê Hoàn) mọi việc làm của vua phải làm với tinh thần vô vi hay nói khác hơn là phải thi hành triệt để chính sách vô vi. Là thiền sư đồng thời giỏi Hán học bên cạnh nghĩa vô vi trong kinh Phật nhất định khái niệm vô vi của Khổng Lão cũng không xa lạ gì với ông vậy ông đã dùng từ "vô vi" này với nghĩa nào. Đạo đức kinh của Lão Tử chương 3 viết "Vi vô vi tác vi bất trị - làm cái không làm tức là chẳng có gì không sửa sang" hay chương 37 "Đạo thường vô vi nhi vô bất vi - Đạo vốn không làm gì nhưng không gì không làm" còn Khổng Tử trong Luận ngữ cũng dùng tinh thần "Vô vi nhi trị" trong Phật giáo vô vi có nhiều nghĩa. Trong luật tứ phần viết : " Nhẫn nhục đệ nhất đạo Phật thuyết vô vi tối - Nhẫn nhục là hạnh tu cao nhất Phật nói vô vi là trên hết" Kinh Đại Nhật viết : "Bồ tát vì chúng sanh trong pháp giới không từ mệt nhọc thành tựu an trụ học giới vô vi xa lìa tà kiến thông đạt chánh kiến". Hay "thâm quán pháp tánh vô vi hoặc sanh hoặc pháp đều vô sở đắc" "Quân bất kiến tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân bất trừ vọng tưởng bất cầu chân" (chứng đạo ca) Nhân nhân tận thức vô vi lạc nhược đắc vô vi thỉ thị gia" ( Chơn Không). Như vậy vô vi theo Phật giáo là vô trước vô chấp ( vô sở đắc) là con đường của Bát thánh đạo( xa lìa tà kiến thông đạt chánh kiến)Trong tư cách là một thiền sư trước ông đã khuyên vua nên theo tinh thần tùy duyên của đạo Phật mà ứng xử tiếp đến ông lại khuyên vua nên thi hành chính sách vô vi nhằm đem đến sự ổn định cho quốc gia thì nhất định tinh thần vô vi này phải xuất phát từ Phật giáo hơn nữa hoàn cảnh lịch sử và mối quan hệ giữa Pháp Thuận và Lê Hoàn cho ta hiểu rằng chính sách vô vi này chắc chắn mang tính tích cực có như thế mới giải quyết được những nhiễu nhương của xã hội tiến tới một nền hòa bình đáp ứng được mong muốn như câu 2 của bài thơ đã nói. Tính tích cực ấy là gì? Đó là tính vô trước vô chấp của đạo(chính sách) vô vi. Làm mọi việc cho mọi người không phải với suy nghĩ vì mình là vua và mọi người phải biết ơn mình mà làm là vì hạnh phúc của nhân dân xem hạnh phúc của nhân dân cũng chính là hạnh phúc mình đó là vô trước. Thi hành những chính sách khoan dung ai có tài thì tạo điều kiện hoặc mời ra giúp nước không kể quá khứ dòng họ phe phái trước đây của họ cho họ nhận thức được rằng đất nước này là của chung chứ không của riêng ai nên phải cùng nhau xây dựng đó là vô chấp.

Đọc vào lịch sử ta thấy biết bao triều đại đã thay đổi Ngô Đinh Lê lý Trần v.v. . Tuy nhiên triều đại có thể đổi thay nhưng chủ quyền của đất nước không bao giờ thay đổi.  Bởi vì nếu làm ngược lại sớm muộn gì triều đại ấy cũng sẽ suy tàn. Ngày nay sau hơn 1.000 năm những lời khuyên của thiền sư Pháp Thuận vẫn còn nguyên giá trị. Bởi khi chiêm nghiệm tinh thần tùy duyên bất biến vô trước vô chấp mà Pháp Thuận đã khuyên Lê Hoàn chúng ta mới thấy hết tính chân lí của vấn đề. Đối với chính trị thì tùy duyên đối với Tổ quốc thì bất biến đối với nhân dân thì công minh nhân nghĩa  một khi đã thi hành triệt để tinh thần ấy thì lo gì chẳng hết can qua lo gì không thực hiện được ước muốn "chốn chốn hết đao binh". Tinh thần ấy là khuôn mẫu trị nước an dân mà thiền sư Pháp Thuận đã rút ra từ tinh thần Phật giáo. Nó không những là kim chỉ nam cho triều đại Lê Đại Hành mà còn là khuôn vàng thước ngọc cho mọi triều đại về sau./.

More...

Nghĩa chữ Tâm trong câu " Bát nhã Tâm kinh

By Viennhu

 

        Cần phải thống nhất một cách hiểu cho từ "Tâm"

        trong câu " Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh"



Đạo Phật truyền vào Việt Nam đến nay đã hai mươi thế kỷ mặc dầu ngày nay có nhiều tài liệu chứng minh rằng đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang Việt Nam chứ không như cách nghĩ trước đây rằng từ Trung quốc. Tuy nhiên có thề nói rằng hầu hết kinh điển Đại Thừa  Phật Giáo mà người Việt Nam đang đọc tụng hiện nay đều được dịch ra từ  Hán Tạng. Tâm kinh Bát Nhã cũng không ngoài cách ấy.


Do hoàn cảnh lịch sử đã có rất nhiều từ Hán đã biến thành từ Hán Việt chính vì vậy đôi khi dịch thuật nếu không đối chiếu kỷ thì dễ bị nhầm lẫn do tính đa nghĩa của từ. Một trong những từ đó từ Tâm mà cụ thể ở đây là từ Tâm trong câu "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh". Trong ngữ cảnh này từ Tâm lại được dịch ra tiếng Việt với nhiều nghĩa khác nhau như sau :

Lòng .

              " Công chúa thấy thế thương song

                Bèn chuyển kinh lòng động đến hoàng thiên"

                           Nam Hải Quan Am - Chân  Nguyên Thiền Sư

              : "Dựng cầu đò xây chiền tháp ngoài trang nghiêm sự tướng hảy tu

        Xăn hỉ xã nhuyến từ bi nội tự tại kinh lòng hằng đọc".

                                      Cư trần lạc đạo phú - Trần Nhân Tông

 Ruột    . Kinh ruột tuệ giác siêu việt - Thi Vũ - Rừng trúc Paris Xb 1973

Tâm : Chân như - thật tánh - Bát Nhã Tâm Kinh giảng giải - H.T Thích thanh Từ - nhà XB TPHCM . 1998

Tinh yếu . - Thiền môn nhật tụng năm 2000 .Thiền sư Thích nhất Hạnh

" Kinh ruột bát nhã" -"kinh lõi bát nha" - "bài  tóat yếu kinh bát nhã"- Tâm kinh bát nhã ba la mật đa - H.T. Thích Trí Thủ -tủ sách kinh luận tánh không -1982 .

Trái tim .  _  Kinh trái tim tuệ giác vô thượng  - Thích Tâm Thiện - nhà XBTPHCM 2000 .


Với tất cả những nghĩa trên thì nghĩa nào gần với nghĩa của bản gốc nhất? Tại sao lại có nhiều nghĩa như thế? . Vậy từ Tâm trong câu "Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh" nghĩa như thế nào ?

Để giải quyết vấn đề này chúng ta hãy xem xét lại quá trình phiên dịch kinh Bát Nhã đại bản cũng như tiểu bản :


Về đại bản
:

•-    Kinh Bát Nhã được biết sớm nhất ở TQ là vào năm 178 sau tây lịch khi Chi Lâu Ca Sấm dịch Tiểu phẩm Bát Nhã với cái tên Đạo hành Bát Nhã kinh.

•- Trúc Pháp Hộ  dịch Đại Phẫm bát Nhã với tên mới là Quang Tán và Phóng Quang Bát Nhã vào khỏang giữa thế kỷ thứ III .

•-  La Thập dịch lại tòan bộ hai tập trên với cái tên ban đầu là Tiểu Phẩm và Đại Phẩm bát Nhã vào đầu thế kỷ thứ  V.

•-   Huyền Tráng  dịch lại với cái tên Đại Bát Nhã gồm 600 cuốn vào thế kỷ thứ  VII sau khi đi thỉnh kinh ở An Độ về .


Về tiểu bản
:

-  Ma Ha Bát Nhã ba la mật chú kinh - do Chi Khiêm dịch năm 223 . ( Thất bản) sau Tây lịch.

•-  Ma Ha Bát Nhã ba la mật đại minh chú - do  Cưu Ma La Thập dịch khỏang 402-412 sau Tây lịch.

•-   Bát Nhã ba la mật đa Tâm kinh - do  Huyền Tráng dịch năm 649

•-   Bát Nhã ba la mật đa na kinh - Do Bồ Đề Lưu Chi dịch năm 693 .(Thất bản)

•-   Phật thuyết Bát Nhã ba la mật đa tâm kinh - Do  Nghĩa Tịnh dịch năm 700.

•-   Ma Ha Bát Nhã  Tùy Tâm kinh - Do Từ Hiền dịch năm 700 ( Thất bản) .

•-   Phạn Bản Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - Do Bất Không Kim Cương dịch năm723 .( Thất bản)

•-   Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - Do Pháp Nguyệt dịch 732

•-  Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - do Bát Nhã và Lợi Ngôn dịch năm 790

•-  Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh  - do Trí Tuệ Luân dịch 850.

•-  Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh  -- Do Pháp Thành dịch  năm 856 .
     •-  Phật thuyết thánh mẫu Bát Nhã Ba La Mật đa Tâm kinh - do Thi Hộ dịch năm 980.


Như thế ta có thể thấy rằng tất cả các bản kinh đại bản hay tiểu bản đều gọi là kinh Bát Nhã và chỉ  ở tiểu bản thì có bản có từ "Tâm" và có bản không. Điều này giúp ta khẳng định rằng Kinh này là kinh Bát Nhã cho dù đại bản hay tiểu bản và chữ Tâm phải liên quan đến việc rút gọn hay tinh lược của bản kinh.(Thường thì người ta nghỉ rằng tiểu bản là "Tâm Kinh" chứ ít người nghĩ là "Bát Nhã Kinh" lâu dần ta có khuynh hướng nghĩ rằng có một bản "Tâm Kinh" độc lập ngoài bản Bát Nhã kinh. Chính vì nghĩ như thế nên dịch giả thường tập trung vào từ Tâm và cho nó một vai trò chính trong bản kinh này) mỗi khi chúng ta khẳng định được điều này thì chúng ta sẽ thấy rằng chức năng của từ  "Tâm" trong câu "Ma ha Bát Nhã Ba La mật Đa Tâm Kinh" chỉ là bổ ngữ cho từ "Kinh" và như đã nói ở trên tên chính của kinh này là Bát Nhã do vậỳ nghĩa của từ này(Tâm)bổ nghĩa cho từ Bát nhã và  phải liên quan đền sự rút gọn của kinh Bát Nhã đồng thời chỉ có vai trò phụ mà thôi  cho nên dù không có từ "Tâm" này thì ý nghĩa của bài kinh vẫn có nguyên giá trị chính vì vậy ta thấy có  nhiều bản dịch chữ Hán không có từ "Tâm" này.

Như thế thì tất yếu từ "Tâm" ở đây chỉ mang nghĩa là : Đại ý tóm lược tóat yếu cốt lỏi tinh túy hay tinh yếu những phái nghĩa khác của từ "Tâm". Tất nhiên sẽ  có người đặt câu hỏi như vậy tại sao gọi là "Tâm Kinh" ? Thật ra "Tâm Kinh" chỉ là một cách nói tỉnh lược của câu "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" mà thôi đây là một quy tắc của ngôn ngữ và hết sức phổ biến . Ví dụ : Kinh Diệu Pháp liên Hoa  gọi tắt là "Kinh Pháp Hoa" "Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm " gọi tắt là "Kinh Hoa Nghiêm" Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật " gọi tắt là  "Kinh Kim Cang" v.v . Nếu chúng ta cứ căn cứ vào từ đã được tỉnh lược mà dịch nghĩa thì quả thật khó mà trung thực với ý nghĩa của nó và đôi khi làm sai lệch nghĩa của cụm từ mà nó tỉnh lược. Ví dụ :Nếu ta dịch "Tâm kinh" (*) là kinh này nói về Tâm thì ta sẽ dịch như thế nào đối với "Kinh Kim Cương" Không lẽ ta lại dịch là kinh này nói về một loại đá quý.

Thật ra những gì tôi trình bày ở trên cũng không có gì mới lạ nó đã được nhiều bậc Cao Tăng Thạc Đức đã đề cập đến rồi nhưng những vị đó chỉ giải thích nhằm lý giải kinh "Tâm kinh "mà thôi . Trong bài này tôi tập trung vào nghĩa của từ "Tâm" trong bản kinh này. Thiết nghỉ rằng chúng ta đang ở vào thế kỷ 21 nhu cầu Việt hóa kinh điển hết sức cần thiết bởi vì Đạo Phật đã có mặt trên đất nước này ngót 2000 năm và Bát Nhã Tâm Kinh này chắc chắn đã được hàng triệu triệu người trì tụng qua nhiều năm tháng lẽ nào mỗi người hiểu mỗi cách và rồi dịch theo cách riêng của mình mà dường như  khi đọc  bản tiếng Việt thì ý của dịch giả này không gần với người kia thậm chí có khi còn hoàn toàn đối nghịch nữa. Như thế thì những người muốn nghiên cứu kinh Phật biết căn cứ vào đâu để hiểu được kinh này. Đây chính là trách nhiệm của những người phiên dịch và giảng giải kinh điển ra tiếng Việt . Do đó việc thống nhất một nghĩa đối với từ "Tâm" trong bản kinh này là điều cần thiết nó cho thấy một quan điểm nhất quán đối với giáo pháp của đức Phật đồng thời tạo cho người nghiên cứu Phật Pháp có một cơ sở để đi vào con đường tu tập. và sau cùng là nó nói lên một sự hiểu biết chắc thật đối với từ "Tâm" trong bài kinh này bởi vì mỗi người dịch mỗi cách khác nhau cũng có nghĩa là chưa có một sự  nhất trí về nghĩa  cho từ "Tâm" trong ngữ cảnh  này .

Với suy nghĩ như vậy và với những gì mà tôi trình bày ở trên tôi cho rằng nghĩa của từ Tâm trong câu " Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" đơn giản chỉ là : Tóm lược tóm tắt toát yếu hay tinh yếu mà trong ngữ cảnh này nghĩa "tinh yếu" là phù hợp hơn cả./.

                                                                                                       Viên Như

(*) Thật ra người dịch đã không lưu ý rằng nghĩa cũa từ hrdaya là trái tim ( Vật lý) chứ không phải là Cita là Tâm (Tâm lý ). Lý do hiểu sai từ Tâm này là do từ Tâm  trong tiếng  Hán và Việt trùng cả âm vị lẫn hình vị hơn nữa người dịch lại không tra cứu kỷ lưởng từ  hrdaya theo tiếng Phạn hay ít nhất cũng tham khảo  các bản dịch khác bằng tiếng Anh Pháp .v.v... để có thể đối chiếu .

More...

Bài Thơ "Vịnh nga" Một đường hướng ngoại giao thời đầu tự chủ của nước ta

By Viennhu


       1000 năm Thăng Long nhìn lại

Bài thơ « Vịnh nga » (1)

            Một đường hướng ngoại giao trong thời kỳ đầu tự chủ của nước ta

Viên Như

     

Trong lịch sử ngoại giao của nước ta vào thời kỳ đầu tự chủ ngoài những văn thư qua lại còn có một sự kiện được lưu lại dưới hình thức là một bài thơ. Dĩ nhiên ngôn từ ngoại giao mà ghi lại bằng thơ thì khung cảnh cũng nên thơ chứ không phải là những lời lẽ đầy hậu ý cùng những lời tán tụng qua lại tại cung đình hay nơi đại sảnh. Ở đây sự việc xảy ra trên một con thuyền tại một khúc sông với hai người một là sứ thần của nhà Tống và người kia là ông lái đò của nước Việt. Đối tượng mà cả hai người mượn để nói lên ý nghĩ của mình lại là bầy ngỗng. Bài thơ ấy được ghi lại trong lịch sử như sau :

Năm (987) nhà Tống lại sai Lý Giác sang . Khi đến chùa Sách Giang Vua sai Pháp sư tên là Thuận giả làm người coi sông ra đón. Giác rất thích nói chuyện văn thơ. Lúc ấy nhân có hai con ngỗng lội trên mặt nước. Giác vui ngâm rằng : (2)

Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha.

                      Ngỗng ngỗng cả bầy ngỗng
                             Ngửa mặt  hướng ven  trời.

Pháp sư đương cầm chèo theo vần làm nối đưa cho Giác xem :

Bạch mao phô lục thủy
  Hồng trạo bãi thanh ba.

Lông trắng phơi dòng biếc
Chân hồng rẽ sóng khơi.

Việc bài thơ này được ghi lại trong chính sử cho ta suy nghĩ rằng cha ông ta ngày xưa nhất định xem trọng sự kiện này hay nói khác hơn bài thơ này nhất định chứa đựng một thông điệp quan trọng nào đó chứ không thể có việc bỏ thì giờ để viết một câu chuyện mà như ngày nay nhiều người cho là truyền thuyết hóa vào chính sử được. Bởi vì sự kiện Lý Giác sang nước Việt hai lần không phải để dạo chơi cũng chẳng phải để mà đối đáp thơ văn mà nhất định phải mang theo một thông điệp nào đó thế mà trong sử không thấy ghi gì ngoài hai bài thơ và một từ khúc. Điều này cho thấy rằng những gì mà chính sử ghi lại trong giai đoạn này nhất định phản ảnh những gì mà nhà Tống muốn. Do đó cần nghiên cứu kỷ lưởng xem bài thơ này ẩn chưa những gì.

Như chúng ta biết Thiền sư Pháp Thuận là một trong những thiền sư nổi tiếng của thời kỳ đầu trong nền văn học tự chủ ông đã đóng góp tích cực vào công cuộc ổn định chính trị thời đại Lê Hoàn nhưng cũng như nhiều thiền sư khác những gì liên quan đến sự nghiệp của ông chỉ còn lại hết sức giới hạn. Hiện nay thông qua lịch sử chúng ta chỉ biết về ông với một tiểu sử sơ sài và hai bài thơ nói đúng hơn là một bài rưỡi có nghĩa là một bài thơ bốn câu trong đó ông chỉ đóng góp hai câu thôi. Một bài thơ hay như thế nhưng một lần nữa trong lịch sử Việt Nam bài thơ lại bị cho rằng chỉ là sửa lại một bài thơ của Trung hoa cụ thể là của Lạc Tân Vương làm lúc 10 tuổi.

Như lịch sử cho biết Lý Giác sang Việt Nam hai lần lần đầu là vào năm 986 mang theo chế sách phong cho Lê Hoàn chức An Nam Đô Hộ Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ Kinh Triệu Quận Hầu; đồng thời bảo lãnh cho hai tướng Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị Lê Hoàn bắt trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng năm 981 về nước lần ấy theo sử sách ông ta được tiếp đãi rất nồng hậu. Lần hai là vào năm(987).Tất nhiên với tư cách là sứ giả của Thiên triều chắc chắn Lý Giác phải tỏ cho vua quan nhà Tiền Lê thấy cái uy phong của kẻ bề trên chứ làm gì có cái  thiện cảm như nhiều người nghĩ. Có thể vì bị ảnh hưởng bởi bài thơ Lý Giác tặng Pháp Thuận trước khi về nước và sự khôn khéo của Khuông Việt khi trả lời Lê Hoàn về bài thơ này (3)nên người ta mới nghĩ như vậy chăng.

Tuy nhiên may mắn thay là vẫn còn đó hai bài thơ đây như là ADN duy nhất của người xưa để lại. Do đó ta cần phải phân tích ADN này xem thử thành phần nó ra sao có thật là cùng gen với bài thơ của cậu bé Lạc Tân Vương không để trả lời có hay không việc đạo văn và ai đạo của ai?

Câu 1:           "Nga nga lưỡng nga nga"

Ngỗng ngỗng cả bầy ngỗng

Câu này từ trước tới nay hầu như ai cũng hiểu và dịch  là hai con ngỗng như "song song ngỗng một đôi" chắc có lẽ người đọc thấy câu này bắt đầu bằng hai từ "nga nga" rồi lại kết thúc "nga nga" như vậy dịch là "song song và một đôi" là quá đắt rồi. Có ai ngờ chính vì hiểu và dịch như vậy  nên đã định hướng cho người đọc một thông tin hoàn toàn khác hẳn những gì mà chính văn mang lại. Từ đó còn có lời khen Lý Giác; đồng thời còn phân tích cặn kẽ và cho là Phật pháp thâm hậu ngôn từ không khác một thiền sư. Quả thật sự tưởng tượng của con người vô cùng phong phú. Trong bài viết này tôi chỉ khảo sát trong khung cảnh bấy giờ với những con người lịch sử và vai trò mà đất nước họ giao phó trong tư cách là những nhà ngoại giao như đã nêu từ đầu bài.

Vậy câu này nghĩa như thế nào? Để tìm hiểu nghĩa của câu này ta hãy tạm quên chuyện "song song và một đôi" đi và xem lại Lý Giác đã nói gì. Lý Giác nói "nga nga" là hai con rồi "lưỡng" hai con lại thêm "nga nga" hai con nữa. Như vậy chỉ trong câu thơ thôi ta thấy đã có tới sáu con ngỗng rồi sao lại cho rằng chỉ có hai con. Trong thơ Việt Nam cũng có một câu theo cấu trúc này đó là câu đầu của bài thơ "Vịnh đèo Ba Dội" của Hồ Xuân Hương: "Một đèo một đèo lại một đèo. Làm sao ta có thể cho rằng câu ấy chỉ nói có một đèo được. Trở lại câu thơ của Lý Giác ta thấy có đến sáu con ngỗng nhưng vì khổ thơ năm chữ nên ông dùng chữ " Lưỡng" vừa là hợp với khổ thơ vừa tạo âm điệu khiến cho bài thơ đẹp lên. Tuy nhiên như ta biết ngôn ngữ thi ca là ngôn ngữ ước lệ Lý Giác đâu mất công mà đếm có bao nhiêu con ngỗng dưới sông kia. Nó có thể là 5 con 6 con mà có khi còn hơn nữa con số mà trong tiếng Việt ta gọi là "bầy" và đây chính là ý của câu một. Ta tạm dịch câu này là " Ngỗng ngỗng cả bầy ngỗng".

Câu 2:           Ngưỡng diện hướng thiên nhai

                      Ngưỡng mặt hướng ven trời

Sáu con ngỗng đang  bơi với tư thế ngưỡng mặt hướng về phía chân trời. Trong câu này Lý Giác dùng từ "thiên nhai" có nghĩa là chân trời cao xa vời vợi. Sao ở chổ sông nước kia lũ ngỗng lại ngưỡng mặt hướng về chân trời cao xa vời vợi thế. Hơn ai hết Pháp Thuận  là người trong cuộc ông biết rằng "thiên nhai" ở đây chẳng qua Lý Giác muốn chỉ cho thiên triều nhà Tống đấy thôi. Như vậy ta thấy hai câu này đã nói lên sự ngạo mạn trịch thượng của một sứ thần phương bắc. Ông đã ví vua quan và nhân dân nước Việt như là bầy ngỗng đang ngưỡng mặt hướng về thiên triều thần phục. Đây là thái độ phổ biến của sứ thần phương Bắc chứ chẳng riêng gì Lý Giác; tuy nhiên ở đây Lý Giác lại dùng thơ để nói vừa thách thức Pháp Thuận về mặt kiến thức vừa hạ thấp đối phương một cách văn vẽ quả thật đúng là ngôn ngữ ngoại giao hết sức nhẹ nhàng nhưng chứa đầy giông bão.

Là một công dân nước Việt được giao phó trọng trách tiếp sứ thần lân bang dĩ nhiên Pháp Thuận hiểu ngay những câu thơ cao ngạo ấy của Lý Giác. Tuy nhiên trong tinh thần trách nhiệm của một công dân hơn nữa lại là một thiền sư ông đã bình thản trả lời Lý Giác bằng hai câu thơ hai câu này không những để đối trọng lại thái độ ngông nghênh mà Lý Giác đã nói trước đó mà còn làm cho bài thơ hoàn chỉnh rất hay.

Câu 3 và 4 :  Bạch mao phô lục thủy

                      Hồng trạo bãi thanh ba.

                      Lông trắng phơi dòng biếc

                      Chân hồng rẽ sóng khơi.

"Bạch mao" là lông trắng là biểu tượng cho sự công khai ngày nay chúng ta vẫn thường dùng các từ như: bạch hóa minh bạch hay sách trắng đó là nhiệm vụ của bộ ngoại giao là nơi công khai những chính sách của chính phủ. Rõ ràng trong câu này Pháp Thuận đã sử dụng từ bạch rất chuẩn. "Phô" là khoe ra phô bày làm cho ai cũng thấy như vậy ta thấy từ phô này hoàn toàn tương hợp với từ đi trước nó là bạch. "Lục thủy" là chỗ rộng rãi bằng phẳng (bình đẳng)hay chỗ công cộng quốc tế. Như thế câu này nghĩa bóng của nó là: Về phương diện ngoại giao một cách minh bạch và bình đẳng nước ta  công khai tính độc lập đó để các nước lân bang công nhận.

Tuy nhiên việc yêu cầu nước khác công nhận nền độc lập không có nghĩa là chúng ta trở thành thuộc địa hay lệ thuộc vào một nước khác trong bài này cụ thể là nước Tống. Ở câu bốn Pháp Thuận đã minh định lập trường đó. "Hồng trạo" có nghĩa là mái chèo màu hồng ở đây nghĩa đen là chân hồng nghĩa bóng là nội lực tràn đầy màu hồng là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ tràn đầy như: tuổi hồng hồng quân máu hồng trạo là mái chèo ở đây là cơ chế nội lực "bãi" là hai tay khoát ra ở đây là rẽ "thanh ba" là sóng xanh. Câu này có nghĩa là nếu như ai đó gây ra sóng gió thì ta có nội lực để rẽ sóng mà tiến lên.  Lời lẽ của Lý Giác đưa ra trong bài thơ là cố ý hạ thấp nước Việt xem vua quan và nhân dân nước Việt như những kẻ hoàn toàn lệ thuộc vào triều Tống với tư cách là những thần dân. Đây là một thái độ ngông nghênh của một kẻ đại diện cho cái gọi là Thiên triều. Trước thái độ trịch thượng đó Pháp Thuận đã bình thản (như một tính chất phải có của một nhà ngoại giao) trả lời Lý Giác "Về phương diện ngoại giao thì nước tôi thông báo cho nước ông biết là nước Việt là một nước độc lập như thế không phải là nước Việt là thuộc địa của bất cứ ai vì nếu cần thiết thì chúng tôi có thừa nội lực để rẽ sóng mà đi tới".

Cần lưu ý rằng cách đó một năm chính Lý Giác đã sang nước ta để bảo lãnh cho hai tướng nhà Tống bị ta bắt trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng. Chắc chắn dư âm thất bại đó của quân Tống vẫn còn vang vọng trong tâm thức của ông ta nên khi nghe Pháp Thuận đáp như vậy Lý Giác giật mình và hiểu ra rằng tại sao quân Tống thất bại (quân sự) và cả chính ông nữa cũng thất bại vào lúc này(ngoại giao). Cũng từ nhận thức nầy mà thái độ sau đó của Lý Giác dè dặt hơn điều này đã thể hiện rõ trong bài thơ ông ta tặng Pháp Thuận sau đó. Tuy cao ngạo nhưng ít ra ông ta cũng đã công nhận giờ đây nước Việt đã là một đất nước vững mạnh. Trong bài thơ Lý Giác tặng Pháp Thuận có câu"Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu khê đàm ba tỉnh kiến thiềm thu. Ngoài trời có trời nên xa nghĩ khe đầm sóng lặng thấy trăng thu". Hai câu này theo nhiều người cho rằng Lý Giác cuối cùng phải chấp nhận nước Việt cũng là trời có nghĩa là công nhận nước Việt là một nước độc lập. Thực ra thời ấy nước ta chưa bao giờ được phương Bắc công nhận độc lập. Theo thiển ý của tôi thì  câu "thiên ngoại hữu thiên"xuất phát từ Đạo Đức kinh của Lảo Tử đã thành một thành ngữ với ý nghĩa khuyên ai đó cần phải khiêm nhường đừng tưởng mình quan trọng mạnh to lớn .v.v. vì mình to lớn còn có kẻ khác to lớn hơn. Do đó có thể Lý Giác sử dụng nó như là thành ngữ với nghĩa mà tôi đã nói trên. Vì hai câu này có ý đe dọa dạy đời nước Việt là "ngoài trời còn có trời nữa các ông nên nhìn xa trông rộng (ưng viễn chiếu) khi sóng trong khe đầm lặng rồi thì sẽ thấy trăng thôi(kiến thiềm thu). Chúng ta thấy trong câu cuối Lý Giác nói "ba tĩnh - sóng yên" nhưng mà sóng trong "khê đàm - khe đầm" thôi. Đáng lý câu này Lý Giác có thể viết " Hải giang ba tỉnh kiến thiềm thu"mới phải chứ. Vì đã nói sóng thì phải nói đến sông biển chứ sao lại sóng trong khe đầm. Rõ ràng ý của Lý Giác là muốn ám chỉ những cuộc nỗi dậy của các nước chung quanh chỉ là sóng trong khe đầm thôi nên khi  bị dẹp yên rồi thì Nhà Tống cũng như trăng trên trời sẽ soi xuống và ngự trị trong những khe đầm ấy . Lời lẽ như thế thì thật quá ư cao ngạo do vậy nếu ta hiểu câu "thiên ngoại hữu thiên" là có ý công nhận nước ta cũng là trời liệu có ổn không. Tuy nhiên là một sứ thần phương Bắc mà dùng từ như vậy thì trong lòng nhất định có sự nễ phục nước ta. Ấy vậy mà từ hai câu này nhiều người nghĩ rằng Lý Giác có cảm tình và khen nước Việt. Có lẽ ở ta luôn có mặc cảm nhược tiểu nên chi khi có ai đó nói hay làm cho ta đôi điều tốt thậm chí cũng chẳng phải vì dân ta mà vì quyền lợi thiết thực của họ nhưng để chứng tỏ ta là quân tử (hảo) luôn trọng nghĩa tình lại ca ngợi đến mức nhầm lẫn giữa ranh giới của sự ghi nhận và lòng biết ơn. Trong lịch sử nước ta không hiếm những trường hợp như thế. Như trước đây thì có Cao Biền Lý Giác và giờ đây thì Alexandre de Rhodes Yersin.

Như thế chúng ta thấy bài thơ tuy được làm bởi hai người với hai tư tưởng đối lập nhưng về mặt văn học thì là một bài thơ hoàn hảo rất đẹp. Đặc biệt hai câu của Pháp Thuận chính là chuẩn mực cho đường hướng ngoại giao lúc bấy giờ và tinh thần ngoại giao ấy xuyên suốt lịch sử về sau mà có lẽ ngay cả trong thời đại của chúng ta nữa. Đó chính là chính sách ngoại giao "Độc lập tự chủ láng giềng hữu nghị". Chính trên nguyên tắc ngoại giao này mà trải qua hàng ngàn năm với bao biến chuyển của thời cuộc nước Việt vẫn là một nước độc lập.

Trở lại vấn đề đạo văn của Lý Giác và Pháp Thuận. Như đã đề cập ở trên qua phân tích chúng ta thấy đây là một bài thơ hay không những về mặt văn chương mà cả phương thức ứng xử của hai con người đại diện cho hai quốc gia bày tỏ quan điểm của mình vỏn vẹn trong 20 chữ (mỗi người 10 chữ) chỉ bấy nhiêu thôi mà đã nói lên được chính sách của mỗi nước trong quan hệ với nước khác thì có thể nói rằng đây là một kiệt tác văn học. Ấy thế mà cả hai nhân vật sáng tác ra bài thơ trên lại mang tiếng là đạo thơ của một cậu bé 10 tuổi ở Trung Hoa. Cụ thể là bài "Vịnh nga" của Lạc Tân Vương (khoảng 640-684). Bài thơ ấy như sau:

Nga nga nga

Khúc hạng hướng thiên ca

Bạch mao phù lục thủy

Hồng chưởng bát thanh ba.

Như chúng ta biết có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng của Trung Hoa thời ấy giờ đây chỉ còn lại một hai bài thơ còn hầu hết đều thất lạc theo những cơn binh biến loạn lạc của lịch sử. Sở dĩ nó còn lại là nhờ vào sự tập chú của các nhà viết văn học sử lúc bấy giờ. Thời ấy đâu có dễ gì được các nhà tập chú thơ quan tâm và làm gì có nhiều giấy mực và công sức mà viết đại trà chỉ có những bài hay của những nhà thơ tên tuổi may ra mới được ghi lại; đồng thời cũng may mắn lắm mới không bị tiêu hủy sau những nhiễu nhương của thời cuộc. Vậy mà Lạc Tân Vương được quan tâm đến mức một bài thơ làm lúc 10 tuổi lại được sưu tập đồng thời nổi tiếng và được phổ biến tới ngày nay. Nó nổi tiếng đến mức ngày ấy hai con người tiêu biểu cho trí thức của hai đất nước phải thuộc nằm lòng. Tại sao có hiện tượng này? Vì bài thơ quá hay làm chuẩn mực cho văn học hay vì lí do nào khác?.

Để tìm hiểu vấn đề này chúng ta hãy phân tích xem bài thơ của Lạc Tân Vương như thế nào? Đồng thời cá nhân tôi cho rằng thực chất bài này là một sự gian lận với một ý đồ nhất định nó là sản phẩm đạo văn từ bài thơ của Lý Giác và Pháp Thuận như những gì trình bày dưới đây.

Câu một:       Nga nga nga

                     Ngỗng ngỗng ngỗng

Như vậy câu này thiếu mất hai chữ hai chữ ấy là chữ gì? Tất nhiên là "nga nga". Nếu Lạc Tân Vương có khả năng làm bài thơ này lúc 10 tuổi thì đâu lại quên khổ thơ này là thơ 5 chữ và có khó gì khi thêm vào hai chữ "nga nga". Vấn đề là làm gì có cậu bé Lạc Tân Vương ở đây mà đây là tác phẩm được nhào nặn lại từ bài thơ của Lý Giác và Pháp Thuận bởi những con người có học với một ý đồ nhất định. Do vậy việc bỏ đi hai chữ "nga nga" là cố ý dấu đi ý tưởng mà Lý Giác đã nói trong thơ ông. Đồng thời có lẽ đã có bàn tay lông lá nào đó đã thêm vào trong ĐVSKTT câu "Lúc ấy nhân có hai con ngỗng" để định hướng suy nghĩ của người đọc. Điều này cho thấy ở Trung Hoa người ta hiểu câu một là "một bầy ngỗng" chứ đâu có phải chỉ "hai con" chính vì vậy mà họ bỏ bớt hai chữ (nhưng vẫn còn ba con chứ không phải hai như ta hiểu). Có lẽ hai chữ này bị bỏ đi sau khi sửa toàn bộ bài thơ chứ không phải ban đầu vốn là như thế lí do cho việc bỏ đi hai chữ này là làm cho ra vẻ trẻ con để phù hợp với ngôn từ của những câu sau đó; đồng thời  dấu đi ý tưởng của Lý Giác.

Câu hai :       Khúc hạng hướng thiên ca.

                      Cong cổ lên trời mà kêu

Nhằm phục vụ cho việc vu cáo bị đạo văn nên những người sửa cần phải làm sao phải giữ được sự giống nhau của hai bài nên ngôn từ trong bài này hết sức khiên cưỡng. Ở đây đáng lẽ ra sau phó từ "hướng"  dùng một danh từ là đủ còn nếu kết thúc bằng một động từ như trong bài thì câu sau phải thể hiện những gì thuộc về động từ đó. Ấy vậy mà câu ba không thể hiện điều này.

Câu ba:          Bạch mao phù lục thủy

                      Lông trắng nổi nước xanh.

Ở câu này chỉ khác bài của Lý Giác và Pháp Thuận một chữ "phù" là nổi. Đã nói là nổi thì nổi trên nước chứ còn nước xanh làm gì. Về quy luật thì đúng ra sau động từ "phù "  phải là một phó từ chứ không thể là danh từ được. Như nổi lềnh bềnh chẳng hạn. Tuy nhiên cái sai ở đây thành cái đúng nó đúng là vì như thế mới là  thơ của con nít.

Câu bốn:       Hồng chưởng bát thanh ba.

                      Tay hồng khoát sóng xanh.

Câu này khác hai chữ "chưởng""bát". Chưởng là bàn tay bát là khoát ra moi bới. Ai có chút kiến thức về chữ Hán cũng dễ nhận ra sự chông chênh của câu thơ và cách dùng từ. Tuy nhiên điều ấy có quan trọng gì vì đây là bài thơ của đứa trẻ lên 10 thì việc bất cập đó là chuyện bình thường. Chuyện không bình thường là tại sao một bài thơ như thế mà lại được các nhà tập chú thơ ở Trung Hoa lưu truyền và trở nên nổi tiếng nó nổi tiếng không những trong nước mà còn vượt cả biên giới sang nước Việt khiến cho hai con người trí thức của hai đất nước như Lý Giác và Pháp Thuận phải nằm lòng. Thật có chuyện phi thường đó không? hay đây chính là một trò đánh lận con đen?.Với những gì đã phân tích trên cho ta câu trả lời rằng: Trước khi có bài thơ đối đáp giữa Lý Giác và Pháp Thuận chẳng có bài "Vịnh nga" nào cả mà nó chỉ có mặt sau sự kiện đối đáp bằng thơ giữa sứ thần phương Bắc và ông lái đò nước Việt mà thôi. Có thể sau khi trở lại đông đô Lý Giác vẫn còn giật mình về những lời lẽ và cung cách mà Pháp Thuận đã ứng xử nên tìm cách hạ thấp giá trị nội dung của bài thơ nhằm gỡ gạc chút đỉnh sĩ diện. Có lẽ chính Lý Giác cũng tham gia sửa cũng nên sau khi sửa tới sửa lui thấy khó nên sửa đại rồi xóa bớt hai chữ ở câu đầu và gán cho tác giả là Lạc Tân Vương làm lúc 10 tuổi thế là xong. Vì dù cho ai có nói gì về chuyện câu cú từ ngữ chăng nữa thì số tuổi nhỏ bé của tác giả đã là câu trả lời thỏa đáng rồi.

Như vậy chúng ta thấy bài "Vịnh nga"của Trung quốc đúng là một bài thơ của trẻ con mà đã là như thế thì tại sao lại được sưu tập lưu truyền chắc ở Trung Hoa thời ấy có quá ít người biết chữ và làm thơ chăng? Đặt vấn đề như vậy và với những hiểu biết về lịch sử và văn học Trung Hoa cho phép ta hiểu rằng : Sự tồn tại và lưu truyền bài thơ của tác giả 10 tuổi này không phải vì giá trị văn học của nó mà chính là vì nhiệm vụ và mục đích của nó. Nhiệm vụ của nó là biến bài thơ của Lý Giác và Pháp Thuận thành một bản sao và mục đích của nó là làm cho hậu thế ngộ nhận rằng một thiền sư nước Việt mà phải thuộc lòng thơ của một đứa con nít ở Trung Hoa thậm chí còn đạo luôn thơ của nó nữa đủ biết người Hán tài đến chừng nào. Mục đích ấy đã thành công hơn ngàn năm qua nhưng có lẽ sự ngộ nhận này chỉ có giá trị chừng ấy thôi./.

1 - Đầu đề do người viết đặt.

2 - ĐVSKTT Q1- tr 328 NXB Văn hóa Thông tin

3 - ĐVSKTT Q1- tr 330- NXB Văn hóa Thông tin

More...

Thiền sư Không Lộ tác giả bài Nam quốc sơn hà - Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam! (2)

By Viennhu


So sánh hai bài thơ : Nam Quốc sơn hà và Ngôn hoài.

Câu 1-            Nam quốc sơn hà nam đế cư

(Sông núi nước Nam vua Nam ở )

 Trạch đắc long xà địa khả cư

 (Chọn được đất thiêng để ở đời )

Sông núi nước Nam vua Nam ở: Câu này khẳng định lãnh thổ của nước Nam và thiết chế chính trị

-Chọn được đất thiêng để định đô: Kinh đô là chỗ ở của vua là mảnh đất trung tâm chính trị của một đất nước là tiêu biểu cho một quốc gia. Như đã nói ở trên "Thăng Long" là "rồng đất" con rồng phương nam con rồng đặc hữu của Việt Nam mà đất của rồng phương nam thì vua nam ở đó là điều tất nhiên. Rõ ràng câu này cũng để khẳng định chủ quyền về lãnh thổ và thiết chế chính trị.

Như vậy hai câu này hoàn toàn giống nhau về ý và cả cách hành văn nữa "Nam quốc sơn hà - trạch đắc long xà" "đế cư - khả cư".

Câu 2 -            Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

(Rành rành định phận tại sách trời.)

Dã tình chung nhật lạc vô dư.

(Tình quê vui thú suốt ngày chơi )

Mới nghe qua ta tưởng hai câu này khác nhau nhưng kỳ thật chúng giống nhau. Sao bảo là giống nhau?

Như ta biết Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ  là một văn bản thiêng liêng lúc bấy giờ chắc chắn các nho sinh phải học tập nằm lòng các quan triều Lý cũng không ngoại lệ. Trong Chiếu dời đô viết "trên kính mệnh trời dưới theo ý dân". Như vậy trong bài NQSH dùng vế trước còn NH thì dùng vế sau của một câu hai vế tuy khác nhau về ngôn từ nhưng ý chỉ là một. Vì " trời cũng chính là dân và dân cũng chính là trời". Nhưng khi ta dùng để nói với kẻ mệnh danh là "thiên triều" thì ta phải dùng trời mà trả lời thế mới tương xứng. Câu này khẳng định lãnh thổ đó thiết chế chính trị đó đã được công nhận bởi công lý thế giới.

Câu 3 -            Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

                        (Nếu như quân giặc sang xâm phạm)

Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh

(Đúng thời lên thẳng non cao vút)

Câu này trong NQSH là cụ thể hóa ý "hữu thời" chính vào lúc khi giặc sang ở đây nói xâm phạm là xâm phạm chủ quyền xâm phạm "cô phong đỉnh" xâm phạm điều thiêng liêng nhất của một đất nước.

Hai câu này tuy câu chữ khác nhau nhưng ý tứ liền lạc với nhau. Điều này dễ hiểu vì bài NQSH nhằm mục đích đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh tâm lý đối tượng là số đông nên ngôn từ phải rõ ràng dễ hiểu.

Câu 4 -            Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

(Các ông sẽ thấy bại vong thôi.)

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

                        (Hét một tiếng vang lạnh cả trời.)          

Câu kết này tuy nặng nhẹ khác nhau nhưng cũng có ý như nhau. NQSH thì nói thẳng quân giặc sẽ thấy thất bại còn NH thì làm cho quân thù nghe mà ớn lạnh khiếp vía kinh hồn.

Như vậy chúng ta thấy liên quan đến hai bài thơ có những giống nhau sau đây:

Về con người :

- Cả hai đều quan đầu triều (nếu ta xem quốc sư như một chức quan hay tương đương)

- Cả hai cùng tham gia trận đánh.

Về bài thơ :

- Cùng được viết trong một thời đại.

- Cùng chuyên chở một thông điệp.

- Cùng giống ý trong từng câu.

- Cùng vận (cư) và lối hành văn.

Chỉ có một điều khác duy nhất đó là một người là tác giả một trong hai bài thơ còn người kia chỉ là người cho đọc bài thơ chứ không phải là tác giả.

Với những phân tích và so sánh trên ta có thể nói rằng bài thơ này chính là anh em sinh đôi của bài kia mà một trong hai có khai sinh rõ ràng thì người anh em kia chắc phải là cùng một mẹ. Hay nói khác bài NQSH là chiếc bóng của bài NH do đó Không Lộ có thể là tác giả bài thơ này hay chính là tác giả bài thơ này bài Nam Quốc Sơn Hà - Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta .

Nhưng điều mà ai cũng biết: Cả hai bài thơ trên đều thoát thai từ Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ - từ Hoa Lư về Thăng Long - năm Canh Tuất - 1010.

                            ................................o0o.................................

1 - Đại Việt Sử Kí toàn thư-NXB Văn Hóa-Thông tin-C1-tr 428.

2 - (Việt điện u linh (1329)- Lý Tế Xuyên. Bản dịch. NXB Văn học H.1972 tr 70-71)

3 -   (Lĩnh Nam chích quái - Vũ Quỳnh - Kiều Phú. Bản dịch NXB Văn hoá H 1990 tr. 83-84).

 Về ngày tháng trong LNCQ có nhiều sai khác giữa các bản ngày 2/10 23/10 Việt sử diễn âm  15/12 ở đây   chỉ luận theo văn bản đã trích.

 4 - Bài thơ của Lý Tường là một bài thơ có nhiều khiếm khuyết  :

A-Ngay câu đầu cách dùng từ đã khiên cưõng. "Tuyển" nội hàm ngữ nghĩa của từ này có nghĩa là chọn nhưng mà chọn một trong số những cái đẹp hay tốt có sẵn. Như tuyển tập văn học tuyển sinh tuyển thủ tuyển phi. Chứ chẳng thấy ở đâu nói tuyển cư tuyển thổ. Hay nói khác hơn từ "tuyển" đi sau nó là những từ thuộc về con người hay sản phẩm của con người và có nghĩa tốt.

B-Tự hai chữ "u cư" đã bao hàm nghĩa của "dã" rồi nên nói "u cư hợp dã tình" là thừa. Hơn nữa "dã tình" đâu phải tính chất cố hữu của con người mà hợp. Do đó câu này bị lủng củng.

C-Câu thứ tư "nguyệt hạ phi vân" cách dùng từ như thế này không phù hợp với trật tự tư duy. Ba câu trước là những câu hoàn chỉnh không ngắt quãng sao bỗng dưng câu này lại ngắt ra. Lại thêm hai từ ghép đi liền với nhau không đối xứng mà lại đối nghịch nhau trăng với mây đi liền nhau đáng ra phải viết là nguyệt hạ vân nhàn hay nguyệt hạ vân... mới phù hợp với quy tắc ngôn ngữ như tuyết tán vân phi. Hay trong tiếng Việt ta thường nói kính trên nhường dưới nhà tan cửa nát mâm cao cỗ đầy. Ai lại nói kính trên dưới nhường nhà tan nát cửa mâm cao đầy cỗ bao giờ.Rõ ràng bài thơ này chẳng có ông Lý Tường nào làm cả mà sửa từ một bài khác mới ra nông nỗi ấy.Cụ thể là sửa từ bài Ngôn hoài của Không Lộ chứ không thể ngược lại được. chuyện này không phải chỉ riêng bài Ngôn hoài mà thôi mà còn nhiều bài khác nữa như bài Xuân nhật tức sự của Huyền Quang chẳng hạn. Rõ ràng đây là một chính sách nhất quán của các triều đại của Trung Hoa chứ không riêng một thời nào.

D- Sẽ có người nói "Nhưng mà về văn bản học thì bài thơ này có từ đời Đường cơ mà". Ngàn năm trước thì việc thêm vào lấy ra một bài thơ có khó gì. Còn có điều lạ nữa là chuyện trùng thơ này chủ yếu chỉ xảy ra với các thiền sư mà thiền sư nổi tiếng của VN mới lạ chứ! Lẽ nào trong chốn thiền môn ở VN lại tập hợp nhiều người đạo văn thế sao?

Đ-Trước đây tôi cũng có bài "Tuyên ngôn độc lập của một thiền sư" cũng viết theo lối suy nghĩ như thế nay nghĩ lại thấy có lỗi với bậc tiền nhân quá.

5 - "Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học"- Thơ văn Lí - Trần tập 1 trang 41 - NXB Viện Văn học - Hà Nội - 1977.

6  - Xem bí ẩn của phong thuỷ Vương Ngọc Đức chủ biên Trần Đình Hiến dịch nxb Văn Hoá Thông Tin 1996.

7 - Kinh Dịch: Đạo của người Quân tử - Nguyễn Hiến Lê Hệ từ truyện - thiên hạ - chương 5 tiết 3  trang 483 nxb văn hoá tb 1994.

8 - Nhị Thập tứ sử - Hán Thư - Truyện Dương Hùng cuốn 1 tr 2243.(thư viện Hán Nôm - HV-488) Dương Hùng thượng truyện đệ ngũ thập thất thượng 2234 Thương vụ ấn thư quán - Túc Ân bách nạp bổn - Nhị thập tứ  sử .

9 - Rồng biến thể từ rắn là đặc hữu của VN. Đây cũng có thể là một yếu tố cho thấy Kinh dịch có thể là của Việt Nam như có người đã nghiên cứu và đề nghị.

More...

Thiền sư Không Lộ tác giả bài Nam quốc sơn hà - Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam! (1)

By Viennhu


 1000 năm Thăng Long nhìn lại

Thiền sư Không Lộ -

Tác giả bài Nam quốc sơn hà - Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta!

Viên Như

                                                                   

                                                                            

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành ghi rõ tại sách trời.

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

1- Xuất xứ

Bài thơ Thần "Nam quấc sơn hà" được xem là bài Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam. Từ lâu bài thơ này luôn gắn với tên tuổi của Lý Thường Kiệt (1019-1105) xuất phát từ cuộc kháng chiến chống nhà Tống xâm lăng kết thúc bằng trận chiến trên sông Như Nguyệt được ghi lại trong Đại Việt Sử Kí Toàn Thư  như sau : "Mùa xuân tháng 3 nhà Tống sai Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu  thảo sứ Triệu Tiết làm phó ....sang xâm lấn nước ta. Vua sai Lý thường Kiệt đón đánh đến sông Như Nguyệt đánh tan được. Quân Tống chết hơn 1 nghìn người Quách Quỳ lui quân lại lấy châu Quảng Nguyên của ta. Người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào dọc theo sông để cố thủ. Một đêm quân sĩ chợt nghe trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng :

 "Nam quốc sơn hà nam đế cư

                          ....thủ bại hư." (1)

Và Việt Điện U Linh :

"Đến thời vua Lý Nhân Tông quân Tống sang lấn tiến vào trong cõi. Vua sai Thái uý Lý Thường Kiệt lập trại ở ven sông để chống giữ. Một đêm quân sĩ nghe trong đền có tiếng thần ngâm thơ:

 "Nam quốc sơn hà

...thủ bại hư".

 Rồi quả nhiên quân Tống bị thua phải rút về nước".(2)

Từ đó người ta ngộ nhận bài thơ ấy là của Lý Thường Kiệt. Sự việc phổ biến đến nỗi đã có nhiều người lên tiếng về điều này như GS Hà Văn Tấn ( Lịch sử-sự thật và Sử  học. Xưa và nay tháng 3-1994) GS.NGND Bùi Duy Tân (phongdiep.net). Ngoài ra bài thơ này còn xuất hiện ở nhiều văn bản khác với những khác biệt nhất định đáng kể nhất là Lĩnh Nam Chích Quái.-

 "Đêm ấy Đại Hành mộng thấy hai thần nhân cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười trời tối đen mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình ở trên không lớn tiếng ngâm rằng:

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Hoàng thiên dĩ định  tại thiên thư.

Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm

Bạch nhẫn phiên thành phá trúc dư".

".

Quân Tống nghe thơ xéo đạp vào nhau mà chạy tan...Lê Đại Hành trở về ăn mừng phong thưởng công thần truy phong cho hai vị thần nhân ...sai dân phụng thờ ...nay vẫn còn là phúc thần"(3)

Tác phẩm này cho ta biết rằng bài thơ này không phải được đọc trên sông Như Nguyệt thời Lý thường Kiệt mà nó cũng đã được đọc trên con sông này nhưng từ thời Lê Hoàn và cũng không nói rõ ai là tác giả. Như vậy về xuất xứ của bài thơ thì đến nay vẫn chưa thống nhất được. Theo thời gian cho đến nay các nhà nghiên cứu đã ghi lại có trên 30 bài NQSH được viết thành văn bản ngoài ra còn có các bản được khắc ở các di tích đền thờ giữa các bản có sự khác nhau nhưng tựu trung hầu hết đều chọn bản trong ĐVSKTT làm chuẩn.

Như đã nói trên sách Đại Việt Sử Kí Toàn Thư Việt Điện U Linh và Lĩnh Nam Chích Quái không khẳng định ai là tác giả bài thơ này. Tất nhiên phải có ai đó sáng tác bài thơ này nhưng vì không biết cụ thể ai là tác giả đích thực nên dựa vào nội dung quan trọng và lớn lao của bài thơ lại được đọc lên vào đêm tối trong một ngôi đền nên gọi thơ THẦN. Tuy nói là thơ của THẦN nhưng rõ ràng phải có ai đó là tác giả chính vì vậy có nhiều người đã để tâm nghiên cứu và đề nghị một con người cụ thể là tác giả như  bài viết của Nguyễn Thị Oanh (Văn nghệ số 12. 21-3-2009) cho rằng tác giả NQSH có thể là đại sư Khuông Việt hay như Lê Mạnh Thát (Lịch sử Phật Giáo tập2 Tập 2. Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh - 2001) cho rằng NQSH của Pháp Thuận. Các đề nghị này chủ yếu dựa vào mối quan hệ của các Thiền sư nói trên với các vua thời ấy nên chưa có tính thuyết phục cao.

Trong bài viết này cùng suy nghĩ phải có ai đó trong số những trí thức dân tộc thời ấy là tác giả của bài thơ nên tôi cũng đề nghị ở đây một con người cụ thể người mà tôi cho rằng có nhiều yếu tố để có thể là tác giả bài thơ NQSH. Tuy nhiên trước khi xem xét đến con người mà tôi đề nghị có thể là tác giả hay chính là tác giả bài NQSH có một vấn đề cần phải giải quyết trước đó là :

  BÀI " NQSH"  ĐƯỢC SÁNG TÁC VÀO THỜI NÀO?

Như đã nêu trên có hai truyền thuyết về sự ra đời của bài thơ thần:

A -Theo Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ): Thời Lê Hoàn (981)

B - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) (Trận Như Nguyệt 1076)

A - VỀ SÁCH  LNCQ

Tác giả LNCQ đến nay vẫn chỉ là giả thuyết chưa chắc chắn Trần Thế Pháp là ai thân thế và sự nghiệp ra sao vẫn là một dấu hỏi. Nội dung LNCQ thì ít ỏi chủ yếu lấy từ sách khác không có tính sáng tạo cao. Do lấy từ sách khác như nghĩa của  từ "chích" trong tên sách mang lại nên có người cho rằng bài NQSH cũng chép từ sách khác có nghĩa là trước đó đã có sách viết về câu chuyện đó rồi nên cho là đáng tin cậy từ đó cho rằng việc Ngô Sĩ Liên viết rằng NQSH được viết và đọc vào thời Lý là ngoa truyền. Tuy nhiên câu chuyện về bài thơ thần trong LNCQ ngoài khác biệt so với ĐVSKTT như: thời đại -Tiền Lê thay vì thời Lý- Trên sông Như Nguyệt thay vì Bạch Đằng thời gian cũng khác. LNCQ viết "Canh ba đêm ba mươi tháng mười trời tối đen mưa to gió lớn đùng đùng". ĐVSKTT viết " Mùa xuân tháng 2".   đây có điều làm cho  ta phải đặt dấu hỏi. Như ta biết cuối tháng 10 âm lịch ở miền bắc nước ta đang là giữa mùa đông thời tiết mưa gió rét như cắt da lại thêm tiết Nguyên đán gần kề tâm lý binh lính sao khỏi chạnh lòng sao nhà Tống lại điều binh sang xâm lăng nước ta vào lúc này liệu các nhà cầm quân của triều Tống có điên không? Thất bại của quân Nam Hán năm 938 là một minh chứng. Về ngôn từ của bài thơ trong  LNCQ cũng khác mà theo tôi thực chất chỉ là sửa lại bài này từ ĐVSKTT do đó có những giới hạn.

So sánh với bài thơ Thần trong ĐVSKTT bài trong LNCQ có những giới hạn như sau :

   -    Câu 2 viết " Hoàng thiên......thiên thư".

Đã là sách trời thì do trời viết hay nói khác nội hàm ngữ nghĩa của từ "thiên thư" là đã có trời rồi vậy cần gì phải "Hoàng thiên" . thêm vào đó "thiên thư " nghĩa đen là sách trời nhưng ta phải hiểu là "sách công lý" có nghĩa là điều đó xưa  nay ai cũng biết. Do đó thêm " Hoàng thiên" chỉ làm yếu đi nếu không nói là thừa  so với cách dùng "Tiệt nhiên" của ĐVSKTT.

   -         Câu 3 LNCQ đã cụ thể giặc là  " Bắc lỗ" thay vì "nghịch lỗ" . Làm như thế có ý chỉ thẳng giặc là ai nhưng lại mất đi tính phổ quát của một tuyên ngôn bởi vì viết như thế thì bài này chỉ có giá trị với giặc phương bắc thôi còn giặc các phương khác thì sao?

-         Còn câu cuối thì " gươm bén  chẻ như chẻ tre" so với câu " Nhữ đẳng....thủ bại hư" thì lời lẽ hơi thô . Bởi vì chuyện thất bại của quân xâm lược đâu chỉ là qua việc chém giết mà nó còn thất bại trên nhiều mặt khác nữa do đó nói nếu giặc phương Bắc sang thì sẽ dùng gươm bén mà đánh cho tan tát như chẻ tre thì rỏ ràng đây chỉ là ngôn từ của chốn riêng tư chứ nếu đem làm thông điệp của một quốc gia là điều bất cập.

Từ những nhận định như thế ta thấy rõ ràng bài thơ Thần trong LNCQ chỉ là sửa lại từ bài thơ trong ĐVSKTT do đó tính khả tín của bài NQSH trong LNCQ là không cao. Vậy tại sao tác giả LNCQ lại viết NQSH thuộc về thời Tiền Lê? Tác giả "chích" từ sách nào? Hay tác giả tự sáng tác? Câu trả lời là: Tác giả rất có thể đã "chích" câu chuyện này từ bộ ĐVSK của Lê Văn Hưu rồi sửa lại thời không từ đời Lý sang thời Tiền Lê. Lý do cho việc sửa này chắc là lấy lòng nhà Hậu Lê. Bởi vì chính nghĩa của Lê Lợi là con cháu nhà họ Lê. Như vậy tác phẩm này có thể ra đời sau khi Lê Lợi lên ngôi chứ không phải thời Trần mạt như có người đề nghị.

B - VỀ SÁCH  ĐVSKTT

Nội dung ĐVSKTT là một bộ sử hết sức công phu có tính bác học điều này cho thấy đây là một công trình mang tính tập thể mà Ngô Sĩ Liên là chủ biên. Một công trình được vua sai làm thì đâu thể không cẩn trọng. Trong tác phẩm này đã rất nhiều lần (29 lần) đề cập tới Lê Văn Hưu tác giả bộ Đại Việt Sử Ký với dòng chữ "Lê Văn Hưu viết......" điều này chứng tỏ ĐVSKTT phần lớn dựa vào ĐVSK của Lê Văn Hưu. Như thế có nghĩa là bộ ĐVSKTT là một tác phẩm được viết nên bởi công sức của rất nhiều người có kinh nghiệm và kiến thức uyên bác với phương pháp làm việc hết sức nghiêm túc dưới sự tài trợ của triều đình qua hai triều đại Trần - Lê  thì lẽ nào thông tin trong bộ sách này lại viết tùy tiện. Đồng thời với ngần ấy thời gian và con người lẽ nào không phát hiện cuốn sách có nội dung mà LNCQ ghi lại.

Từ những so sánh phân tích trên với tính khả tín của bộ ĐVSKTT tôi cho rằng bài thơ thần đã được viết và đọc vào thời Lý Thường Kiệt phá quân Tống trên sông Như Nguyệt năm 1076..

2 - AI LÀ TÁC GIẢ BÀI "NAM QUỐC SƠN HÀ" ?

Như vậy tác giả của nó phải là người thời Lý do vậy ta phải nghiên cứu xem ai có thể có được những yếu tố thuyết phục để có thể xem là tác giả bài thơ nổi tiếng này. Con người ấy nhất định phải có mối liên hệ chặc chẽ với chế độ đương thời và nhất là phải có những tác phẩm còn lại phản ảnh được mối tương quan với bài thơ NQSH . Tìm lại trong văn học đời Lý vào thời điểm đó ta thấy có một con người với những yếu tố mà tôi cho là có thể là tác giả bài thơ Nam Quốc Sơn Hà - bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Người đó chính là Thiền sư Không Lộ.

Dương Không Lộ (1016 - 1094) tên thật là Dương Minh Nghiêm Pháp Hiệu là Không Lộ quê ở Hải Thanh Giao Thủy Tỉnh Nam Định. Ông xuất thân làm nghề chài lưới nhưng giỏi văn chương và mộ đạo Phật. Không Lộ kết bạn tu hành với các Thiền sư Từ Đạo Hạnh và Giác Hải tôn Đạo Hạnh làm huynh trưởng nhưng cùng Giác Hải đi vân du rồi cùng về tu tại chùa Hà Trạch trong khi Đạo hHạnh về tu tại chùa Sài Sơn Quốc Oai . Không Lộ là một thiền sư lớn đời Lý được phong làm Quốc sư đã từng tu các chùa: Nghiêm Quang (chùa Keo) Hà Trạch Chúc Thánh. Không Lộ vừa được xem là thiền sư thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông vừa được cho là thuộc thiền phái Thảo Đường. ( Bách khoa toàn thư mở wikipedia)

Sự nghiệp văn chương của Ts  Không Lộ hiện nay còn hai bài thơ Ngôn hoài và Ngư nhàn. Ở đây tôi đặc biệt tìm hiểu về bài Ngôn hoài từ đó đem so sánh với bài NQSH để thấy những mối tương đồng giữa hai bài thơ.

Ngôn hoài (NH)

                       Không Lộ

                        Trạch đắc long xà địa khả cư

                        Dã tình chung nhật lạc vô dư.

                        Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh

                        Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Tạm dịch :

Nỗi lòng

                        
                                        Chọn được đất thiêng để ở đời

                        Tình quê vui thú suốt ngày chơi.

                        Đúng thời lên thẳng non cao vút

                        Hét một tiếng vang lạnh cả trời.

Bài thơ này cũng như có nhiều bài thơ khác trong kho tàng thơ Thiền Việt Nam lại giống với một bài thơ của Trung Hoa cụ thể là của Lý Tường tặng thiền sư Dược Sư Duy Nghiễm đời Đường: (4)

                                    Tuyển đắc u cư hiệp dã tình

                                    Chung niên vô tống diệc vô nghinh.

                                    Hửu thời trực thướng cô phong đỉnh

                                    Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.

Về việc giống nhau của hai bài thơ cũng như ai đã đạo văn của ai tôi sẽ bàn sau trước hết chúng ta hãy tìm hiểu bài thơ của Không Lộ.

Bài "Ngôn hoài" là một kiệt tác của Không Lộ. Chính vì vậy ta cần phải soi chiếu bài thơ này trong con mắt của thi pháp học có nghĩa là phải nghiên cứu bài thơ một cách toàn diện: từ thân thế tác giả không gian và thời gian bài thơ ra đời ngôn từ được xử dụng trong bài thơ biện pháp nghệ thuật và thông điệp mà bài thơ mang lại và cuối cùng là xâu chuỗi tất cả những yếu tố ấy vào một chỉnh thể thống nhất. Chỉ khi nào làm được như thế ta mới thuyết phục được chính mình và người đọc.

Câu 1 - Trạch đắc long xà địa khả cư

Bài thơ này trước đây đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bình giảng như Đặng Thai Mai đã viết  "Nhà thơ vui mừng nhìn địa vật qua những rặng núi hình rồng hình rắn uốn quanh ngôi nhà mình. Đó là lối nhìn của các thầy địa lý"(5) có thể từ nhận xét của một trong những cây đại thụ trong làng nghiên cứu văn học nước ta như vậy lại thêm vào hình ảnh mà lịch sử cung cấp nên hầu như ai cũng nghĩ bài thơ phản ảnh cái nhìn phong thủy có thể vì trong suy nghĩ của nhiều người thầy tu Phật giáo thường gắn liền với những kiến thức về phong thủy thậm chí gần như mê tín dị đoan nên khi đọc bài thơ của một tác giả là thiền sư người ta dễ liên tưởng đến vấn đề này nhất là ở câu một tác giả đã viết "Trạch đắc long xà địa khả cư". Ngay câu mở đầu người đọc đã bắt gặp ngay hình ảnh rồng rắn thì dĩ nhiên người đọc rất dễ nghĩ rằng đất rồng rắn là một thế đất tốt theo thầy địa lý(Đất rồng rắn dỉ nhiên là một tiêu chí phong thủy nhưng không phải là yếu tố dị đoan thầy địa lý cũng không phải là xấu như ngày nay một số người thường nghĩ). Như vậy ta đi vào cõi thơ của Không Lộ bằng cái nhìn phong thủy tiêu cực thì những ý tưởng tiếp theo trong bài thơ cũng phải theo chiều hướng này kết quả là qua bao cuộc mổ xẻ bài thơ cũng chưa được giải thích một cách thống nhất và thấu đáo từ tên bài thơ cho đến nội dung nên bài thơ vẫn cứ bao trùm một màu huyền bí mà có người còn gọi là "siêu thơ". Do đó chúng cần tìm hiểu xem " Long xà địa là gì?" Có phải là một thuật ngữ phong thủy hay không? Thuật ngữ này đã xử dụng ở đâu? Với nghĩa nào?

-Về phong thủy thì trong 92 thuật ngữ phong thủy (6) không thấy có thuật ngữ long xà địa. Vậy chúng ta tìm hiểu theo hướng khác.

-Trong Kinh Dịch viết rằng: "Long xà chi chập dĩ tồn thân dã" dịch nghĩa "rồng rắn mà ẩn nấp cốt để giữ  mình vậy". (7)

-Truyện Dương Hùng trong Hán Thư cũng nói: "Quân tử đắc thời tắc đại hành bất đắc thời tắc long xà" dịch  nghĩa  "Người quân tử  mà gặp thời thì làm việc lớn không gặp thời thì ở ẩn". (8 )

Như thế là đã rõ thuật ngữ "long xà" có nghĩa là ở ẩn ẩn ở đây không phải là tìm vào chốn xa xôi hẻo lánh mà là hòa mình vào cuộc đời của người quân tử khi chưa đúng thời. Người quân tử ở đây là người có khả năng giúp nước giúp đời. Khi quốc gia hữu sự thì người quân tử phải dấn thân mà bảo vệ tổ quốc khi hòa bình thì họ cũng như bao công dân khác hòa mình vào xã hội âm thầm xây dựng quê hương (rồng thành rắn hay rồng đất). Như thế câu này có nghĩa là: Chọn được cuộc đất tốt có thể ở được.

Như tiểu sử của ông cho biết ông sinh năm 1016 chỉ sáu năm sau khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long ông đã lớn lên cùng với cái hào khí của một đất nước trong một vận hội mới một thời kỳ mà chưa một triều đại nào trước đó làm được: đó là nền độc lập của đất nước. Từ nền độc lập này nước Việt đã phát triển trên mọi mặt nhất là đối với nhân dân những người luôn phải chịu đau khổ trước nhất khi không có hòa bình độc lập. Mọi hoài bão đó được gởi vào hai chữ "Thăng Long". "Thăng Long" là "rồng dậy rồng lên". Như thế có nghĩa là rồng này không phải ở trên trời mà từ mặt đất từ lòng người là ý chí độc lập tự cường là khát vọng hòa bình hạnh phúc. Tự cái việc dùng từ ‘Thăng" đủ cho thấy Lý Thái Tổ đã nhận thức về sức mạnh của nhân dân như thế nào. "Thăng Long" cũng chỉ cho bản thân Lý Thái Tổ mà cũng là tiêu biểu cho nhân dân. "Thăng" là "vươn từ dưới lên" như "thăng tiến" "tỏa từ trong ra ngoài" như "thăng hoa". Điều đó cho thấy yếu tố phong thủy chỉ là thứ yếu trong quyết định này. Điều này đã thể hiện rõ trong Chiếu dời đô trước là" trên kính mệnh trời dưới theo ý dân" sau mới nói địa thế " rồng sinh hổ ở".

Sau những nhiễu nhương của triều đại trước đó chính Thiền sư Vạn Hạnh đã chủ động đề nghị Lý Công Uẩn hãy vì quốc gia mà nắm lấy triều chính và chắc chắn rằng những công việc triều chính sau đó phải có sự tham gia của Vạn Hạnh tất nhiên quyết định dời đô về Đại La không nằm ngoài dự tính của Vạn Hạnh. Ngày nay khi chúng ta đọc vào lịch sử chỉ thấy ghi lại chiếu chỉ dời đô ngắn ngủi của Lý Thái Tổ nhưng chúng ta phải hiểu rằng để đi đến một quyết định như vậy triều đình nhà Lý rút kinh nghiệm từ những sự kiện xảy ra trước đó đã phải bàn bạc cân nhắc trên mọi lãnh vực để sao cho tại kinh đô mới phải củng cố được mọi mặt từ chính trị quân sự văn hóa kinh tế. " Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa thực là chổ tụ hội quan yếu của bốn phương đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời". (Chiếu dời đô). Bởi vì những gì đã xảy ra trước đó nhắc nhở cho Lý Thái Tổ biết rằng: việc thế lực phương bắc xâm chiếm nước ta không phải là quyết định nhất thời mà là một hiện thực lâu dài. Chính vì vậy cần phải chọn một nơi có thể đáp ứng được những mục tiêu đó nơi ấy là một cuộc đất có thế vừa tiến đánh sớm nhất khi quân xâm lược tiến vào nước ta lui về phòng thủ khi cần thiết bằng một hậu phương vững mạnh cả trên hai phương diện thủy và bộ đặc biệt ông đã thành công trong việc dời đô khi đã xây dựng một thế trận lòng dân vô cùng vững chãi. Chắc chắn đã có nhiều phương án được đưa ra và cuối cùng đi đến quyết định chọn (trạch đắc) Đại La rồi đổi thành Thăng Long (rồng đất) (Long xà địa - rồng đất) để định đô (khả cư) (9). Như đã nói ở trên Không Lộ sinh năm 1016 như vậy ông đã lớn lên cùng với cùng với âm vang từ Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ chiếu chỉ này chắc chắn phải được thường xuyên nhắc nhở trong triều đại nhà Lý sau đó (hay như cách ta nói ngày nay là "quán triệt"). Mấy mươi năm sau ông trở thành quốc sư thì chắc chắn ông phải nằm lòng chiếu chỉ này. Tất nhiên ông hiểu và thời đó có lẽ ai cũng hiểu "thăng long" là "rồng đất" là sức mạnh của nhân dân. 

Câu 2 - " Dã tình chung nhật lạc vô dư".

 "Dã" là thôn quê "tình" là tình cảm tâm tư ở đây là đời sống tinh thần nơi thôn dã. Nhưng tại sao lại là đời sống tinh thần nơi chốn quê mà không phải là thành thị? Đây chính là cái tài của tác giả. Thông thường trong một quốc gia thôn quê là nơi ít được hưởng thụ những thành quả của xã hội nhất thế mà ở đây người dân nơi thôn quê lại được hưởng trọn vẹn thành quả của xã hội trên mọi mặt thì những thành phần khác trong xã hội phải ngang bằng hoặc hơn. Như ta nói: "Ở Việt Nam người nghèo nhất cũng có một chiếc xe hơi" thì cũng có nghĩa là những thành phần còn lại phải có một hoặc hơn một chiếc xe hơi. Đây là một nghệ thuật dùng từ mà ngày nay ta gọi là biện pháp tu từ "dùng cái thấp nhất để chỉ cái cao nhất". Rõ ràng tác giả dùng từ rất đắt.

 Từ "vô dư" lấy từ nhà Phật nghĩa là không còn gì "lạc vô dư" có nghĩa là vui không sót vui không thiếu lãnh vực nào không còn gì không được vui.

Như ta biết lịch sử nước ta được viết bằng máu bằng sự hy sinh của biết bao thế hệ không một gia đình dòng họ nào ở nước Việt mà không có người đã hy sinh nơi chiến trận một đất nước hết bị phương bắc xâm lăng thì phía nam quấy phá trong một quốc gia như vậy thì chiến tranh luôn là nỗi lo không những của người nắm giữ vận mệnh của quốc gia dân tộc mà còn là của nhân dân. Bởi vì chiến tranh đồng nghĩa đau thương mất mát và đói khổ không phải chỉ đau thương mất mát trên chiến trường mà nỗi đau đó kéo dài theo những gia đình khi con mất cha vợ mất chồng nhà tan cửa nát. Còn đau đớn hơn nữa khi tổ quốc bị ngoại bang cai trị như Nguyễn Trãi đã viết :

"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

vùi con đỏ xuống hầm tai họa ............

Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi !"

                                               Bình Ngô đại cáo

Thỉnh thoảng cũng có hòa bình thì gặp phải cảnh hôn quân bạo chúa thế là có hòa bình nhưng chưa phải thái bình. Chính vì vậy khát vọng một cuộc sống trong một quốc gia độc lập thái bình thịnh trị trên thì có vua anh minh dưới thì các quan liêm khiết là khát vọng vô cùng to lớn của người dân Việt trong mọi thời đại. Việc đời đô từ Hoa Lư về Thăng Long và những năm tháng thái bình sau đó là minh chứng cho thấy sự nhìn xa trông rộng của Lý Thái Tổ dưới sự cố vấn của Quốc sư Vạn Hạnh nó cho thấy sự đồng lòng từ vua quan cho đến thứ dân quyết định đó đã làm thay da đổi thịt đất nước trên mọi mặt. Quốc gia thì thái bình thịnh trị luật pháp thì khoan hồng mà nghiêm minh văn hóa thì thăng hoa rực rõ nhân dân thì ấm no hạnh phúc. Do vậy dù ở chốn thôn dã mà vẫn hưởng thụ được thành quả của thái bình không phải chỉ là cơm ăn áo mặc mà trên tất cả các lãnh vực khác của cuộc sống. Đó là niềm vui trọn vẹn. Thế mới gọi là "chung nhật lạc vô dư". Một quốc gia mà nơi thôn quê dân dã lại được hưởng trọn vẹn tất cả những thành quả của xã hội thì biết rằng xã hội đó tiến bộ thế nào. Không Lộ cũng lớn lên và tận hưởng niềm vui chung đó ông đã chứng kiến sự phát triển của quê hương trên mọi mặt và hương vị của thái bình đã thấm vào tâm hồn ông. Với tất cả những gì mà ông trải nghiệm ông đã gởi gắm vào câu  này.

Câu 3 - Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh

("Hữu thời"- chữ "thời" ở đây là chữ "thời" trong  Kinh dịch có nghĩa là thời cơ cơ hội vận hội. Vì ở câu một ông đã dùng "long xà địa"cũng trong Kinh dịch hơn nữa nếu ta hiểu " hữu thời" là có khi hay thỉnh thoảng thì yếu quá so với khí lực của bài thơ và đồng thời không liên kết được với ý sau của câu thơ.

"Trực thướng" nghĩa đen là lên thẳng nghĩa bóng là ngay tức khắc.

"Cô phong đỉnh" là đỉnh núi chon von núi đứng một mình nghĩa bóng là chủ quyền quốc gia).

Vui là thế thanh bình là thế niềm vui lớn quá cứ tưởng chừng  như nhân  dân nước Việt giờ đây quên hết những đau thương mất mát khi ngoại bang xâm lăng nước họ rồi. Không đâu! Người dân Việt tuy được vui hưởng thái bình nhưng họ nhận thức được rằng trong mỗi bát cơm ăn một đêm yên giấc thanh bình là kết quả của sự độc lập thái bình. Những đau thương mất mát của cha ông đã kết tinh vào trong tâm thức họ ý thức chủ quyền của quốc gia tuy không bộc lộ ra ngoài nhưng dòng tâm thức đó vẫn luân lưu trong mỗi người dân Việt. Hơn ai hết họ biết rằng làm sao hạnh phúc được khi đất nước bị mất chủ quyền bị ngoại bang xâm lăng dày xéo. Tuy ngày ngày vui nơi thôn dã làm rắn sống giữa đồng nhưng khi quốc gia hữu sự lập tức rắn hóa thành rồng đứng lên chung sức chung lòng bảo vệ sơn hà xã tắc. Không Lộ là quốc sư mà tiêu chí để vua quan triều Lý phong làm quốc sư thì đâu phải chỉ biết xem ngày lành tháng tốt đất thịnh hướng thông mà phải là con người có tầm nhìn đối với quốc gia đại sự để tham mưu cố vấn cho triều đình trong việc trị quốc an dân. Với tư cách là một thiền sư thì ông cố vấn cho triều đình lãnh vực nào ngoài văn hóa - tư tưởng mà văn hóa cao nhất và cũng là nhiệm vụ thiêng liêng nhất trong một quốc gia đó là lòng yêu nước. Do đó chắc chắn rằng dưới sự cố vấn của ông triều đình luôn nhắc nhở giáo dục người dân về lòng yêu nước bảo vệ non sông. Từ tầm nhìn vĩ mô ông nhận biết rằng tuy vui trong thanh bình như thế nhưng mỗi người Việt luôn có lòng tự hào dân tộc.Do vậy khi có bất cứ thế lực nào xâm phạm quốc gia thì đó chính là lúc (hữu thời) và ngay tức khắc (trực thướng) họ đứng trên lập trường chủ quyền quốc gia (cô phong đỉnh) để đối mặt với quân thù. Hình ảnh một người leo thẳng lên đỉnh núi cao chót vót mà theo chữ Hán trong bài thơ gọi là "cô phong đỉnh" là một hình tượng độc lập hùng vĩ và rất đẹp. Cô là trơ trọi không có gì chung quanh có nghĩa là chẳng có ngọn núi nào khả dĩ so sánh được hình ảnh ngọn núi cao vút đứng một mình thẳng hướng lên trời cao là hình ảnh vô cùng mạnh mẽ hùng tráng nhưng cô độc. Ngọn núi cao là vậy hùng vĩ là vậy thì làm sao thỉng thoảng lại leo thẳng lên đỉnh núi được ai mà leo cho nỗi. Do vậy đây là ngọn núi tâm linh văn hóa ngọn núi này mỗi người dân Việt ai cũng có trong lòng chính vì vậy khi cần thiết là ngay tức khắc họ có mặt ở non cao nơi ngày ngày quận tụ hồn thiêng sông núi. Đây cũng chính là hình ảnh của thiền hình ảnh bất khả tư nghị bất khả tỷ giảo cũng như đỉnh cao của trí tuệ giác ngộ cái trí tuệ mà kẻ giác ngộ không thể chia sẻ với ai không thể so sánh với cái gì cũng như trong một quốc gia chủ quyền là cái duy nhất không có gì có thể so sánh và đánh đổi được.

Câu 4 - Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Như vậy trong lòng mỗi người dân Việt luôn có một đỉnh núi một ý thức về chủ quyền quốc gia ý thức đó tuôn chảy từ đời này sang đời khác. Nhưng vấn đề là những kẻ xâm lược luôn tìm mọi cách để phủ nhận điều đó. Chính vì vậy chủ quyền này cần phải được tuyên bố nhất là khi chủ quyền của nước nhà bị xâm phạm. Từ ý thức chủ quyền đó ở trên đỉnh núi cao đó ngay tức khắc họ long trọng tuyên bố nước Việt là một nước có chủ quyền. Ở đây tác giả dùng từ thét mà thét dài (trường khiếu) nó cho ta thấy sự dõng dạc cương quyết và hùng tráng. Khi ta quá đau khổ ta cũng thét khi ta quá hạnh phúc ta cũng thét thét là một ngôn ngữ ở đỉnh cao hay có thể nói là siêu ngôn ngữ nó được dùng để diễn tả những gì mà ngôn ngữ có nói cũng không thể nói hết được mà nền độc lập chủ quyền của quốc gia có được là từ máu xương của bao thế hệ xây dựng nên thì bút mực lời nói nào diễn tả cho hết. Trong đạo thiền tiếng thét cũng là ngôn ngữ của người giác ngộ chỉ có tiếng thét mới làm cho kinh hãi cả ba cõi thấu khắp cả tam thiên chứ cái ngôn ngữ đối đãi thì làm sao mà diễn tả được cái sâu thẳm của đạo được thế mới gọi là nói mà không nói hay ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt vậy. Còn đối với một đất nước thì chỉ có tiếng thét không những thét mà còn thét dài và chỉ thét dài một tiếng (nhất thanh) mới có thể nói lên được cái ý thức chủ quyền độc lập là to lớn đến chừng nào. Nhưng sao lại thét dài một tiếng vâng! một tiếng thôi hàng triệu triệu người con Việt dị khẩu đồng âm (khác miệng giống lời) cùng thét dài lên một tiếng một lập trường một ý thức "độc lập" có như thế mới làm cho những kẻ xâm lược rởn tóc gáy lạnh cả người cả thế giới phải im lặng lắng nghe (hàn thái hư).

Không phải ngẫu nhiên mà người đời sau đặt tên bài thơ này là "Ngôn hoài"  "lời hoài bão" Hoài bão của một con người một công dân một dân tộc.Hoài bão đó là gì nếu không phải là một quốc gia hưng thịnh thiên hạ thái bình dựa trên một nền độc lập tự cường và sẵn sàng bảo vệ nền độc lập ấy bằng bất cứ giá nào nếu như có bất cứ ai bất cứ thế lực nào xâm phạm.

Như thế ta thấy bài thơ này chuyên chở một thông điệp xuyên suốt ý tứ nhất quán cách dùng từ có tính khái quát cao lối hành văn dứt khoát làm cho khí lực của bài thơ vô cùng mạnh mẽ và khiến cho người đọc cảm thấy hết sức trang trọng. Có thể bài thơ này Không Lộ làm vào độ tuổi 35-45 có nghĩa là vào khoảng những năm 1051-1061. Có lẽ không trễ hơn được. Vì sau 50 tuổi theo quy luật tự nhiên khí lực con người bắt đầu đi xuống do đó bút lực khó mà đạt được như vậy. Trong thời kỳ này nhà Lý cho dựng chùa Một Cột nói là nằm mộng chứ kỳ thực ý muốn nói nền độc lập của nước nhà. Ta có thể tóm lược như sau:

Câu  1 - Khẳng định lãnh thổ và thiết chế chính trị: Đất Long xà hay đất Thăng Long là kinh đô của nước Việt là tiêu biểu cho nước Việt. (chính trị)

Câu  2 - Nhân dân trong nước sống sung túc an lạc-yêu chuộng hòa bình.(kinh tế)

Câu  3 - Văn hóa chủ quyền quốc gia là tư tưởng chủ đạo của mọi người dân (văn hóa).

Câu  4 - Sẵn sàng bão vệ chủ quyền đó (quân sự)và và được tuyên bố rộng rãi chủ quyền đó trên trường quốc tế.

Như thế bài thơ này có khác gì một Tuyên ngôn độc lập hay có thể nói rằng đây là bài Tuyên ngôn độc lập.

Vậy liệu bài thơ này tuyên ngôn độc lập này có liên quan gì đến bản Tuyên ngôn độc lập Nam quốc sơn hà không?

Như lịch sử cho biết Lý Thường Kiệt (người cho đọc bài thơ thần trên sông Như Nguyệt) sinh năm 1019 sau Không Lộ 3 năm. Nghĩa là Lý Thường Kiệt và Không Lộ là người cùng thời. Khi trận Như Nguyệt xảy ra lúc ấy Lý Thường kiệt 57 tuổi và Không Lộ 60 tuổi. Một bên là quan võ đầu triều người kia là quốc sư cả hai là lão thần của triều Lý. Là quốc sư không lẽ khi quốc gia nguy biến như vậy mà ông không hay biết hay sao có thể ông cũng có mặt trong

More...

Vài suy nghĩ về bảng chữ cái tiếng Việt và đề nghị cách viết chữ Việt không dấu

By Viennhu

Vài suy nghĩ về bảng chữ cái tiếng Việt

và đề nghị cách viết chữ Việt không dấu


Theo các nghiên cứu về lịch sử chữ viết của người Việt gần đây cho rằng ngay từ thời Hồng Bàng nước ta đã có chữ viết thứ chữ  ngày nay gọi là chữ "Nòng nọc" được khắc trên trống đồng. Rồi thì chữ "khoa đẩu" cũng có từ  thời nước Văn Lang nhưng rồi tất cả đã mất bóng vào lịch sử nhường bước cho chữ Hán rồi từ chữ Hán người Việt cho ra đời chữ Nôm đến khi những người phương tây sang chữ viết của nước ta lại có thêm loại chữ mới. Loại chữ viết này không theo lối cũ là chữ biểu í mà theo cách biểu âm. Kể từ ngày có mặt trên nước Việt đến nay đã trên 300 năm càng ngày loại chữ La Tinh này càng phổ biến chúng càng phổ biến và quan trọng hơn khi vào năm 1920 người Pháp ra lệnh cấm dùng chữ  Nôm.Từ đó chữ Việt - La Tinh xem như là quốc ngữ. Tất nhiên không phải những gì các vị cố đạo xưa kia đưa ra đều hợp lí cả mà khuôn mặt chữ quốc ngữ ngày nay có được đoan trang như vậy là nhờ vào sự trang điểm của bao thế hệ người Việt. Tuy nhiên có một vấn đề là chữ Việt - La Tinh đã trở thành quốc ngữ trước khi nó được nghiên cứu một cách kĩ lưởng. Bởi vì song song với nhu cầu phổ biến kiến thức đến với mọi người qua việc xử dụng con chữ (đây là thời kì mà ai cũng có cơ hội học được con chữ vì sự đơn giản của nó) đất nước lại phải kháng chiến đòi độc lập sức người sức của tập trung vào đây thế là chữ quốc ngữ mặc nhiên đi vào đời sống quốc gia với rất nhiều điều bất cập. Cũng chính vì vậy mà khi bắt đầu có thời gian nhìn lại chúng ta mới thấy nó chưa thật sự hoàn hảo. Bằng chứng là có rất nhiều đề nghị cải cách cải cách cách viết như thay một số chữ cái bằng chữ cái khác bỏ bớt dấu ngã hoặc hỏi viết liền các từ ghép thậm chí viết chữ Việt không dấu. Tất cả không ngoài nỗ lực muốn làm cho chữ Việt phong phú hơn nhưng cho đến hiện nay chữ Việt vẫn thế.Tại sao như vậy?.Phải chăng những đề  nghị trên không hợp lý hay chẳng ai quan tâm đến những đề nghị đó.

Không phải như vậy những đề nghị trước đây về cải cách chữ Việt có không ít những ý kiến hay và hợp lý đồng thời có rất nhiều người quan tâm có thể chưa phải là những cơ quan có thẩm quyền về ngôn ngữ nhưng rõ ràng người ta đã bàn rất nhiều về những vấn đề mà nhiều người đưa ra như đã nêu trên nhưng cuối cùng chỉ dừng lại ở chỗ tiếp tục bàn thôi. Bởi vì đã có ai đó trả lời "Cải cách làm gì? trong khi chữ Việt đang làm tròn nhiệm vụ của nó trên mọi lãnh vực khoa học chính trị văn hóa. Vậy cớ gì phải cải cách".

Đúng như vậy nhưng đó chưa phải là câu trả lời hoàn toàn thỏa đáng. Nếu chúng ta xem chữ viết như là một phương tiện chuyên chở tư duy mà ở đây tạm gọi là chiếc xe thì nếu thay một vài bộ phận để làm cho chiếc xe ấy chạy êm hơn tốc độ hơn thậm chí an toàn hơn sao ta không làm?.Tất nhiên những người có trách nhiệm điều khiển chiếc xe này cũng có những lí do của họ. Có thể như sau :

•1-     Như tôi đã nói trên chữ Việt - La Tinh đã đi vào lịch sử đã trở thành quốc ngữ đã là chữ viết của bao văn tự quốc gia. Hay nói khác hơn xe này đã và đang chở iếu nhân vẫn chạy tốt thôi cứ vậy mà chạy dừng lại sửa chữa tốn kém lở có chuyện gì ai chịu trách nhiệm.Vấn đề ở đây không còn là vấn đề chữ viết nữa mà là vấn đề lịch sử.

•2-      Những đề nghị trên tất nhiên là có những đề nghị hoàn toàn phù hợp về mặt chuyên môn nhưng nó không phải là vấn đề không thể thay thế nên không áp dụng(cải cách) cũng chẳng sao.

•3-     Đất nước đang còn nhiều lãnh vực khác cần thay đổi mà không cải cách ngôn ngữ  cũng không sao nên dành chuyện cải cách cho lãnh vực khác.Vì một lần cải cách là tốn kém.

Có thể với những suy nghĩ trên nên tuy có nhiều đề nghị tâm huyết nhưng cách viết chữ Việt vẫn thế chẳng thay đổi gì.

Vẫn biết như thế nhưng ở đây tôi cũng đề nghị cải cách chữ viết.Về mặt ngôn ngữ trong từng lãnh vực riêng biệt thì những đề nghị của tôi cũng không khác mấy so với những đề nghị của nhiều người trước đây.Tuy nhiên lí do của tôi thì có nhiều điều khác biệt như tôi trình bày sau đây:

1 - Bảng chữ cái của ta là những kí tự ghi lại những âm tố hình thành nên tiếng Việt.Trong những  âm tố này chắc chắn rằng đa số đã được hình thành từ đời Hùng Vương. Ấy vậy mà giờ đây ta ghi lại ta lại không ghi một cách đầy đủ. Hiện nay bảng chữ cái của chúng ta chỉ có 29 chữ còn lại các chữ : Ch ng nh kh th tr ph không thuộc chữ cái.Tại sao vậy?.Tôi tạm gọi bảng chữ cái là gia đình âm tố tiếng Việt gia đình này hiện nay theo thống kê thì gồm có 34 thành viên (theo tôi). Thế nhưng ta chỉ công nhận 29 thành viên là chính thức. Như tôi đã nêu trên đa số âm tố này đã có từ thời xa xưa biết bao thế hệ đã sử dụng những âm thanh này để bàn bạc bày tỏ quyết định những những quyết sách của quốc gia hay nói khác hơn chúng là những đứa con của tổ quốc vậy sao không chính thức công nhận là những đứa con ruột được hưởng cái quyền lợi của một một đứa con trong khi nghĩa vụ thì phải làm mà lại xem chúng như những đứa con nuôi.

2 - Trong khi chúng ta không thừa nhận những đứa con này là những đứa con ruột thì chúng ta lại dốc sức để nuôi những đứa con nuôi mà ta tưởng là con ruột những đứa con tình cờ ghé vào gia đình âm tố tiếng Việt thậm chí có ai nhận dạng chỉ ra thì bằng nhiều lí do cố bảo vệ.Trong 3 âm cờ (c k q) chắc chắn có 2 kẻ là con nuôi tương tự như vậy trong các cặp ngh-ng d-gi-gh-g.

3-  Cùng một gia đình nhưng người thì họ này kẻ họ khác.Người thì họ Ê như vê tê vê kẻ thì họ Ờ như Em mờ Anh nờ hay mấy kẻ bị cho đứng bên rìa Xê hát Ca hát Phê hát còn có kẻ tới giờ cũng chưa có tên như Ngh. Hằng ngày xem truyền hình cứ nghe các phát thanh viên đọc các chữ cái của tiếng Việt người ta không biết cách đọc nào là chuẩn tiếng Việt.

4 - Có những iếu tố xuất phát từ một ngẫu hứng nhất thời của một ai đó thế mà bắt cả bao người phải bỏ bao năng lượng để nhớ và duy trì làm cho các vị trí thức phải lao tâm khổ tứ tìm mẹo này cách nọ giúp cho người bình thường cố mà nhớ nếu không thì bảo viết không đúng tiếng Việt. Í tôi nói đến hỏi ngã. Có phải hỏi ngã là  tiêu chí  khu biệt để tạo nên ngữ nghĩa của tiếng nói không? Muốn biết điều này cách hay nhất là ta hãy nói chuyện với những người Việt không biết chữ Việt chắc chắn sẽ chẳng ai băn khoăn người nói nói chữ ấy hỏi hay ngã họ hiểu hết nhưng nếu chúng ta nói huyền thành nặng sắc thành huyền nhất định người nghe tức khắc phản ứng vì họ không hiểu. Như vậy rõ ràng giữa hỏi và ngã không có sự khu biệt làm nên nghĩa trong câu nói chúng chỉ hiện diện trong chữ viết do ta quy định từ sự phát âm khác nhau đôi chút của vùng miền mà điều này xảy ra chẳng phải riêng gì hỏi ngã.Do đó không cần thiết phải bắt mọi người phải nhớ một điều không cần nhớ.Đó là chưa nói đến nay mai nhiều người ngoại quốc tìm đến học tiếng của ta thì quả là khó vì ngay cả người Việt còn gặp khó khăn nữa là người nước ngoài.Như vậy là ta tự làm khó ta chứ không ai khác.(Trong thời đại ngày nay chắc chắn sớm muộn gì cũng sẽ có máy phiên dịch tiếng Việt chừng ấy ta thấy sẽ không có lập trình riêng cho sự nhận diện âm thanh hỏi ngã của một từ mà sẽ chỉ nhận diện âm thanh và tìm ngữ nghĩa dựa trên ngữ cảnh mà thôi).

5- Chữ Việt ngày nay có thể nói về mặt mĩ thuật thì quả là có nhiều cái đẹp với những dấu mũ thanh làm cho dòng chữ như đường đi có thêm cây cối. Tuy nhiên nó cũng như đường đèo rất đẹp như khó lái xe nhanh được vì thường xuyên quẹo trái quẹo phải. Nên chăng ta mở thêm một con đường khác để cho đường đi ít khúc cua cây cối hơn. Con đường này chính là chữ Việt không dấu.Nhìn sang nước Nhật họ có đến bốn cách viết khác nhau vẫn tồn tại tất nhiên là có quy định loại nào thì chữ viết chính thức thế thôi.

Nếu ta nói "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" thì Tiếng Việt chính là "Hồn thiêng của dân tộc" vì vậy việc kí âm lại tiếng nói ấy dù bất cứ  bằng loại chữ nào cũng đòi hỏi người Việt phải làm hết sức mình sao cho trong thể xác ấy phải phản ánh đầy đủ cái linh hồn mà hồn thiêng sông núi đã hun đúc nên. Khi chưa có đầy đủ phương tiện và kiến thức thì có thể nhờ ai đó giúp sức nhưng khi có đủ kiến thức rồi thì ta không thể ỷ lại vào ai khác mà chính người Việt phải có trách nhiệm với tiếng nói của chính mình có như thế mới không còn lời cảnh báo "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt".Vấn đề không còn là vấn đề chữ cái mà nó là vấn đề tâm linh ngôn ngữ Việt. Ta sẽ phải trả lời sao trước tổ tiên khi trong gia đình ngữ âm tiếng Việt có những đứa con xa lạ lại được nuông chiều trong khi đứa con mà bao thế hệ cưu mang thì trở thành kẻ giúp việc.Bảng chữ cái là nơi chứa đựng những âm thanh của thuở ban đầu qua những con chữ mọi tâm tư tình cảm mọi văn bản trên mọi lãnh vực của cả dân tộc cũng xuất phát từ đây do đó nếu ngay từ ban đầu đã có sự bất toàn như thế thì nhất định là điều cần phải quan tâm.Có thể văn hóa không đem lại những lợi ích thật tế tức thời nhưng nó là cốt tủy của một dân tộc một quốc gia.

Trong suy nghĩ đó tôi đề nghị ở đây một bảng chữ cái cùng cách viết theo cách nghĩ của tôi.Tôi nhận thức được rằng nếu đề nghị cải cách như nhiều người đề nghị mà tôi đã nêu trên;có nghĩa là thay một vài bộ phận của chiếc xe thì chắc cũng chỉ để bàn thôi.Vì vậy nên chăng ta làm một chiếc xe mới cũng sử dụng động cơ ấy vật liệu làm nên sườn xe thì ta dùng cũng những thứ sẵn có thứ nào thấy không cần thì bỏ đi thứ nào cần thiết thì sửa chữa rồi thêm vào màu sắc thì thuần hai màu như nhà lợp ngói âm dương (ê ờ) rồi cho chạy thử ai thích thì sang xe mới chạy thử xem sao người không thích thì cứ ngồi trên chiếc xe quen thuộc mà đi như vậy khỏi phải làm cho các bác tài xế lo âu về trách nhiệm bảo trì .

Đây là một cách làm tuy có mới trong suy nghĩ nhưng nhìn chung cũng là kế thừa của nhiều suy nghĩ khác chứ chẳng có gì của riêng tôi.Về cách làm thì theo chủ quan nên chắc chắn có nhiều thiếu sót kính mong quý vị vui lòng lượng thứ góp í. Người xưa nói rằng "Đường trâu đi lâu thành đại lộ" hay"Cuộc đời vốn không có đường do người ta đi mãi nên thành đường." Vì vậy nếu được sự ủng hộ đông đảo của nhiều người thì ta sẽ có thêm một con đường để đi trong vấn đề con chữ ở nước ta. Cuối cùng tôi xin gởi í tưởng này xem như là một sự chia sẽ đến với nhưng ai đã từng thao thức về việc cải cách chữ Việt ./.


                                                    Đà lạt 11/3/2009

                                              Viên Như

 

CÁCH ĐỌC TÊN (letter name)VÀ ÂM (letter sound) CHỮ CÁI


1 - Với tên chữ cái ta đọc bằng cách ghép âm đầu với vần ê. Phương thức này trước nay chỉ áp dụng cho một số tên chữ cái mà thôi. Bao gồm : b c d đ g p t v. Số còn lại h k l m n r s x đọc khác.


Ví dụ : b = b+ê v = v+ê .

2- Với âm chữ cái ta đọc bằng cách ghép âm đầu với vần ờ phương thức này áp dụng cho tất cả âm chữ cái.


Ví dụ :   t = t+ờ m= m+ờ  
 

3 - Như vậy đối với tên chữ cái ngay trong  29 chữ cái đã có cách đọc không thống nhất. Còn trước nay ta không xếp các chữ: ch gh gi kh ng ngh nh qu th tr ph như là chữ cái. Nhưng trên thực tế chúng là những chữ cái. Vì vậy khi gặp trường hợp các chữ này cần phải đọc tên chữ cái (letter name)thì không biết đọc sao.


Ví dụ : QU- NG ( Viết tắc từ Quảng Ngãi) TH- TH ( Viết tắc từ Thanh Thủy) ta phải đọc làm sao.Có thể do như vậy mà vấn đề A bờ cờ và A bê cê vẫn còn tồn tại.


4 - Vì những lí do trên trong bảng chữ cái chữ nôm VN này tôi thống nhất cách đọc tên chữ cái như đề nghị trên.Đồng thời tôi cũng xếp các chữ ch gi gh ng ngh nh kh ph qu th tr là những chữ cái với đơn âm cố định.


Ví dụ: KH  trước đây đọc là CA HÁT hay TH  đọc là TÊ HÁT còn NGH thì ?. Nay trong chữ nôm VN này tôi đề nghị KH đọc là KHÊ TH đọc THÊ NG-NGH đọc là NGÊ hay nói khác hơn là áp dụng cách đọc tên chữ cái(trừ nguyên âm) bằng cách âm đầu + vần ê đối với tất cả tên chữ cái. Bởi vì ta đã có cách đọc thống nhất đối với âm chữ cái(trừ nguyên âm) là âm đầu + vần ờ thì việc áp dụng âm đầu +vần ê cho cách đọc tên chữ cái cũng không gì lạ.

 PHÂN BIỆT KHI NÀO ĐỌC TÊN CHỮ CÁI (LETTER NAME) VÀ KHI NÀO ĐỌC ÂM CHỮ CÁI (LETTER SOUND) HAY NÓI KHÁC HƠN KHI NÀO ĐỌC A BỜ CỜ VÀ KHI NÀO ĐỌC A BÊ CÊ .

1 - Vấn đề này đã được các nhà ngôn ngữ học trả lời nhiều về lý thuyết thì thỏa đáng nhưng về  thực tế thì có nhiều vấn đề nên vẫn còn bất cập.

   Ví dụ : Chữ  a b c. Mỗi chữ đều có 2 phần : tên chữ cái(letter name)và âm chữ cái(letter sound)

    - Tên của chữ [a] là a tên của chữ  [b] là bê tên của chữ [c] là cê(kê)

    -  Âm của chữ [a] là /a/ âm của chữ [b] là /bờ/ âm của chữ [c] là /cờ/ (kờ)


2 - Về lý thuyết  thì như thế nhưng trên thực tế người học không dễ gì nhận ra được khi nào đọc tên chữ và khi nào là âm chữ nên lúng túng. Về vấn đề này tôi xin góp thêm í kiến như sau:

Khi ta đọc [b] là /bê/ có nghĩa là ta đang đọc một từ như : Nhà cửa xe. Từ [b] này có đầy đủ chức năng của một từ trong tiếng việc như : Từ loại (ở đây luôn luôn là danh từ) âm vị hình vị nghĩa.

Ở đây từ [b](bê) chức năng ngữ pháp là danh từ âm vị là /b/ hình vị là [b] và nghĩa được quy định bởi thực tế. Ví dụ : Khối B ông B anh B.

Từ cách hiểu này cho ta biết tất cả các chữ viết tắt luôn luôn làTỪ(ở đây là danh từ) như : UBND UNDP VTV do vậy  phải đọc theo tên chữ (như  vê tê vê). Có thể có người hỏi vậy tam giác a bê cê hay a bờ cờ. Trả lời :Tất nhiên là a bê cê. Vì a b c trong tam giác này là những danh từ ở đây (thông thường) a là tên(danh từ) của góc đỉnh b là tên(danh từ) của góc trái và c là tên (danh từ) của góc phải.
4 - Đối với âm chữ cái như khi ta đọc a b c là a bờ cờ thì những chữ này không phải là từ nên chúng không thuộc từ loại nào và không có nghĩa chúng chỉ có âm vị và hình vị. Do đó không thể đọc các chữ viết tắt như VN UNDP NHCT bằng âm ờ (tờ nờ)được.Vì VN UNDP NHCT là những chữ có nghĩa hay chúng là những danh từ.
Tóm lại ta phải đọc tất cả các từ viết tắt với âm [chữ cái +ê] . Còn [chữ cái +ơ] chỉ dùng giảng dạy về âm vị học chứ không bao giờ sử dụng như là một từ do đó không bao giờ có từ nào viết tắt lại đọc như cách này [chữ cái + ờ].
Trên đây chỉ là những đề nghị của cá nhân tôi mong sự góp í của những người quan tâm.

                      


 

More...

Giải mã bài thơ " Phong Kiều Dạ Bạc" của Trương Kế (2)

By Viennhu



 

Ở đây tôi  dịch "DẠ BÁN"   đêm đã qua hơn một nửa  là vì:

Trương Kế là người Trung Hoa chắc chắn ông biết rằng nửa đêm trong tiếng Hán là "BÁN DẠ" cũng như : BÁN NHỰT (nửa ngày) BÁN NGUYỆT(nửa tháng) BÁN NIÊN(nửa năm). Trong một số trường hợp nào đó có thể đảo ngữ để cho hợp vận hay niêm luật. Tuy nhiên trong văn cảnh này thì việc sử dụng "BÁN DẠ" cũng không sái niêm luật. Vậy tại sao ông không viết "BÁN DẠ" mà lại viết "DẠ BÁN " ngay cả các thức giả Trung Hoa cũng viết  "BÁN DẠ" là nửa đêm như  :

"Thử thời thực bất thị DẠ BÁN (chữ của TK) .Trương Kế sầu miên thời tâm thần hoảng hốt nghi kỳ thị  BÁN DẠ(chữ của người chú) dã" (xem phần dịch ở trước) .

Hay trong Đường Thi Tam Bách Thủ Độc Bản của Sổ Nghiêu viết :

Nguyên văn:

" Thử thi đại ý tự lữ khách dạ túc chu trung đích tình cảnh. Thử thi thời gian hoàn toàn ý tại BÁN DẠ(chữ của người chú). Sở dĩ thủ cú tức thuyết NGUYỆT LẠC dữ mạt cú DẠ BÁN  (chữ của TK) tương hô ứng tịnh dĩ  Ô ĐỀ  dữ CHUNG THANH  tương hô ứng ."

Tạm dịch:

" Bài thơ này đại ý tả tình cảnh của người lữ khách qua đêm trong thuyền. Thời gian trong bài thơ này hoàn toàn chỉ về nửa đêm (BÁN DẠ) . Sở dĩ câu đầu nói  NGUYỆT LẠC và câu cuối DẠ  BÁN là để cùng hô cùng ứng  với nhau rồi thì  Ô ĐỀCHUNG THANH cũng cùng hô cùng  ứng".

Hay trong Đường thi tam bách thủ hân thưởng của Lưu Đại Trừng đã viết  :

"Cái công vị thường chí Ngô trung kim Ngô trung tự thực BÁN DẠ đả chung".(xem phần dịch ở trước)

Như vậy rõ ràng Trương Kế đã dùng từ "DẠ BÁN " có chủ ý. Nhưng "DẠ BÁN với nghĩa nào và tại sao?

Chúng ta hãy trở lại cấu trúc bài thơ này.

Ngay từ đầu tác giả đã viết  :

Cấu trúc  ngữ danh từ :          NGUYỆT   LẠC   trăng rụng hay trăng lặn.

                            C            V

Cấu trúc đủ  (câu)                    NGUYỆT     LẠC   trăng đã lặn.

                            C                V

Các ngữ danh từ " Ô đề sương mãn thiên dạ bán chung thanh" cũng tương tự như ngữ danh từ "nguyệt lạc"

Do dùng câu làm ngữ danh từ nên Trương Kế đã tỉnh lược tối đa thành phần của câu vì vậy người đọc cần phải hiểu theo đúng nghĩa mà cấu trúc thật mang lại. Trong trường hợp này thì "NGUYỆT LẠC" "trăng lặn" phải được hiểu là: "NGUYỆT DĨ LẠC" "trăng đã lặn" chứ không thể nghĩ  rằng "trăng đang lặn được" mà trăng đã lặn thì làm sao mà vào nửa đêm được hơn nữa lại có tiếng quạ kêu (*) quạ là một loài chim không sinh hoạt ban đêm điều này cho thấy tiếng kêu của lũ quạ báo cho thấy rằng đêm sắp hết bình minh đang đến rất gần và cũng chính vì vậy hơi ấm của mặt trời đã vươn tới nơi dòng sông khiến cho hơi nước xông lên thành sương mù dày đặt trong khung cảnh như thế lại có tiếng chuông chùa từ xa vang đến. Trương Kế sau gần một  đêm không ngủ tinh thần mỏi mệt nhưng nhà thơ biết  chắc thời gian đang ở khoảng nào nhất định là không phải vào lúc nửa đêm - canh ba - Bởi vì nếu muốn nói như thế nhà thơ đã viết "BÁN DẠ" rồi. Vì vậy chúng ta hãy xem lại cấu trúc của ngữ danh từ "DẠ BÁN".


            Cấu trúc ngữ danh từ      
DẠ  BÁN    

                                                       C     V

                        Bao gồm  hai cấu trúc đủ:

                         Một              "DA DĨ BÁN" "đêm đã qua  một nửa"

                                                     C        V
              
 Hai  là               "DA DĨ QUÁ BÁN" "đêm đã qua hơn một nửa".

                                                     C          V

Nếu nhìn vào toàn bộ cách dùng từ của Trương Kế trong bài thơ thì ta sẽ thấy cấu trúc hai là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì nếu chấp nhận cấu trúc một thì  tác giả là một nhà vật lý hay toán học chứ không phải là nhà thơ trong thơ không thể có cách nói đo đạc thời gian một cách chính xác như vậy đồng thời nhà thơ chẳng có lý do gì mà ngồi canh thời gian như vậy hơn nữa nếu chỉ thức tới canh ba thì có gì đáng nói mà nếu như vậy thì ông đã dùng danh từ ghép "bán dạ". Ở đây  tác giả dùng từ "dạ bán" là vì ông rút ngắn câu " dạ dĩ quá bán" cũng như " nguyệt lạc" từ câu "nguyệt dĩ lạc". Như vậy "dạ bán"  ở đây có nghĩa là "dạ dĩ quá bán". Cái hay của nhà thơ là ông đã không  nói thời điểm cụ thể mà ông đã để tiếng chuông rơi vào nửa sau của đêm một khoảng cách rất rộng mà ta có thể gọi trong tiếng Việt là "canh khuya" còn người đọc tự  mình cảm nhận thời điểm tiếng chuông vang tới bằng cách hình dung toàn bộ hình  ảnh và âm thanh mà ông đã mô tả trong bài thơ.

Chính các nhà nghiên cứu Trung Hoa cũng cảm nhận điều này như  phần trích dẩn ở trên "nguyệt lạc" hô ứng với "dạ bán" "ô đề" thì hô ứng với "chung thanh" như thế ta có trăng đã lặn hô ứng với đêm đã khuya quạ kêu hô ứng chuông vang.Thêm vào đó cách nhà thơ dùng từ "dạ bán" cho thấy nhà thơ hoàn toàn nhận thức được ông đã chờ đợi giấc ngủ suốt đêm qua hình ảnh này cho ta thấy việc TK không ngủ được là do có một lo âu nào đó rất mạnh mẽ trong lòng chứ không đơn giản là vì buồn.

Ta có thể viết lại bài thơ ấy dưới hình thức văn xuôi chính từ bài văn xuôi này mà TK rút gọn lại thành bài thơ .

"Ngã kim tại Phong Kiều bạc chỉnh dạ tâm tại thiên sầu vạn trứ bất đắc thành miên

Hốt kiến nguyệt dĩ lạc =  Nguyệt lạc

sơn gian ô nha đề khiếu = Ô đề

không trung sương giáng mãn thiên = Sương mãn thiên.

giang biên chi phong thụ  = Giang phong

dữ ngư thuyền chi hỏa quang  = Ngư hỏa

chính đối trước ngã = đối (ngã = sầu miên).

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự (tăng nhân đả chung) = Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

thử thời dạ dĩ  quá bán = dạ bán

chung thanh đáo ngã thuyền.= Chung thanh đáo khách thuyền

Có một một giai thoại để giải  thích cho việc đánh chuông vào lúc "DẠ BÁN" này.

Tương truyền rằng Trương Kế một đêm  neo thuyền ở bến Phong Kiều rung cảm trước cảnh đẹp  của  thiên nhiên ông đã cảm tác được hai câu thơ :

" Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hoả đối sầu miên"

Thế rồi ông không sao kết thúc được bài thơ nên cứ thao thức mãi. Cùng trong đêm ấy sư cụ chùa Hàn San cũng thấy cảnh trăng đầu tháng mông lung huyền ảo nên cảm tác được hai câu thơ :

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung

Bán tợ ngân câu bán tợ cung

(Mồng ba mồng bốn nguyệt mông lung

Nửa tợ móc câu nửa tợ cung)

Rồi cũng như Trương Kế sư cụ cũng không sao kết thúc được bài thơ của mình cứ thao thức mãi. Thời gian trôi đi cho đến lúc chú tiểu trong chùa dậy đánh chuông ( đây là nhiệm vụ của người tập sự) đi ngang phòng thầy thấy thầy còn thức hỏi ra mới biết bèn mạo muội xin thêm vào hai câu nữa để hoàn chỉnh bài thơ. Sư cụ đồng ý chú tiểu liền đọc :

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn

bán  trầm thuỷ để bán phù không"

(một mảnh trăng chia thành lưỡng đoạn

nửa chìm  đáy nước nửa trên không)

Như một nửa còn lại của một viên ngọc hai câu thơ của chú tiểu ý tứ liền lạc với hai câu của sư cụ tạo thành một bài thơ hoàn hảo. Sư cụ như trút được gánh nặng còn chú tiểu cũng vô cùng sung sướng vì thực ra đêm qua chú cũng lâm vào tình trạng như  thầy mình. Hai thầy trò như đã hoàn thành một việc lớn với tâm hoan hỉ phấn chấn chú tiểu đi đánh chuông. Tiếng chuông mạnh mẽ ngân vang như cơn gió mở toang tâm hồn của  Trương Kế còn đang trằn trọc dưới bến Phong Kiều tứ thơ của ông tức thì tuôn trào thành hai câu :

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Thế là Trương Kế cũng hoàn thành bài thơ của mình.

Trong Phật Giáo không thấy có sách nào nói về việc đánh chuông vào lúc nửa đêm hay bất thường ngoại trừ khi nhà chùa có sự cố như : Vị Trú Trì chết hoả hoạn hay bị  nạn trong trường hợp như thế tiếng chuông là một thông tin có giá trị như một thông báo kêu gọi sự giúp đở. Đánh chuông vào canh năm là một truyền thống từ ngàn xưa của Phật Giáo Trung Hoa cũng như Việt Nam điều này ai cũng rõ. Nhưng vì đây là một giai thoại dùng  để giải thích cho việc Trương Kế dùng từ  "DẠ BÁN" với  nghĩa "NỬA ĐÊM" chính vì vậy đôi khi người viết phải sửa lại câu chuyện cho thích hợp với mục đích của mình như Nguyễn Quảng Tuân  đã viết trong tập Văn :(13)

" Chú tiểu hầu bên thấy vậy mới hỏi Sư cụ sao đêm nay cứ trằn trọc mãi không ngủ. . . .

Sư cụ nghe xong khen hay và bảo chú tiểu lên chánh điện đánh chuông tạ ơn Phật".

Đây là một giai thoại nhằm phục vụ cho việc giải thích hai từ "dạ bán" trong bài thơ của Trương Kế do đó những tình tiết của câu chuyện cũng phải làm sao cho hợp lý vì vậy trong câu chuyện mà Nguyễn Quảng Tuân có nhiều điều hơi gượng ép. Một là sao mà nhà chùa hành hạ chú tiểu đến vậy (đứng hầu thầy đến nửa đêm) may mà chú thêm vào hai câu chứ nếu không e hầu cả đêm. Hai là kiểu ăn mừng của thầy trò chùa Hàn San quá ư bất thường. Ba là chuông ở chánh điện là chuông gia trì âm thanh chỉ đủ vang trong phạm vi chánh điện mà thôi làm sao vang tới khách  đang ở trên thuyền ngoài bến Phong Kiều cho nỗi vì chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô cách xa chỗ neo thuyền của Trương Kế . Như vậy tiếng chuông mà Trương Kế nghe phải là tiếng Đại hồng Chung mà Đại Hồng Chung chỉ đánh vào lúc canh năm mà thôi. Cho dù đây là một giai thoại nhưng nó cũng cho thấy rằng người xưa đã nghĩ  "DẠ BÁN" không phải là "BÁN DẠ".

Với tất cả những gì đã nêu trên tôi cho rằng hai từ  "DẠ BÁN" trong trường hợp này có nghĩa là "ĐÊM ĐÃ QUÁ NỬA" "ĐÊM ĐÃ KHUYA" hay  "CANH KHUYA". Rõ ràng Trương Kế đã xử dụng từ "DẠ BÁN" có chủ ý chính xác và rất đắt.

- THÔNG ĐIỆP MÀ TK MUỐN GỞI ĐẾN NGƯỜI ĐỌC LÀ GÌ?.

Như đã trình bày trên rỏ ràng TK viết bài thơ này với những tính toán nhất định vì sao tôi cho như vậy. Bởi vì như ta biết TK là một người tài chỉ với bài thơ PKDB này thôi mà ông đã nỗi tiếng như thế thì đủ biết chắc ông phải có nhiều bài thơ hay khác nữa. Nhưng ngày nay ta chỉ biết TK qua bài PKDB này thôi. Tự việc này đã nói lên rằng TK viết bài này là có dụng ý và dĩ nhiên là ông hết sức hài lòng. Sự việc ngày nay TK chỉ còn một bài thơ PKDB chắc chắn không phải ngẩu nhiên mà có. Ta có thể hình dung ra ngày ấy(thời TK) khi các nhà tập chú thơ muốn ghi lại ( mỗi người mỗi bài) có thể họ đã hỏi TK. "Ong thích bài nào nhất" và TK đáp " Phong Kiều Dạ Bạc" chính vì vậy mà trãi qua hàng ngàn năm với những tranh cãi về chữ nghĩa như thế mà bài thơ vẫn tồn tại trong khi đó bao nhiêu thơ văn của ông chẳng còn gì.

Khi đã nghĩ như vậy thì câu hỏi đặt ra là " Vậy TK viết bài thơ PKDB với mục đích gì?". đề trả lời cho câu hỏi này chúng ta hảy xem lại phương pháp sáng tác bài thơ( như đã trình bày trên). Tôi cho rằng TK là người rất thông thạo về vùng đất này và đã nhiều lần ngủ thuyền ở bến Phong Kiều. Tuy nhiên căn cứ vào những gì đã ghi lại trong bài thơ cho ta hiểu có thể TK viết bài PKDB tại bến Phong Kiều mà cũng có thể TK viết bài thơ này tại một nơi khác. Nhưng dù ông sáng tác bài thơ này ở đâu chăng nữa thì việc sáng tác bài thơ này xuất phát từ những tính toán chứ không phải từ những cảm xúc nhất thời. Theo tôi lý do mà ông sử dụng những hình ảnh của bến Phong Kiều là tại hai chữ " Cô Tô". Đây chính là từ đinh của bài thơ. Bởi vì Thành Cô Tô và chùa Hàn San cách bến Phong Kiều gần chục cây số thì làm sao nằm ở bến Phong Kiều mà nghe tiếng chuông chùa hàn San cho được ngàn năm trước mười cây số là một khoảng cách rất lớn và chắc chắn chủ yếu là rừng rỏ ràng TK đã sắp đặc các yếu tố này một cách có chủ ý mà như tôi đã nói là tại vì TK muốn sử dụng địa danh "Cô Tô"để gởi gắm tâm tư của mình chính vì vậy từ  "Cô Tô" này cũng nằm ở trung tâm của bài thơ.Thêm vào đó lại có chùa Hàn San nơi đêm đêm tiếng chuông vang vọng nhắc nhở con người cuộc đời vô thường lắm. Thông điệp vô thường ấy đã vang tới tận bến Phong Kiều nơi có một con người đang chơi vơi giữa thực hư của nhiên giới hay có thể nói giữa nhân giới. Con người ấy đang lênh đênh trên con thuyền mà ở đây ông đã khéo dùng "KHÁCH THUYỀN" khách cũng chính là thuyền thuyền thì cô đơn trên bến Phong Kiều mịt mờ sương phủ và khách lênh đênh giữa dòng lịch sử với ngổn ngang những dấu hiệu suy tàn.

Như ta biết TK là một mệnh quan của triều đình do đó chắc chắn ông đã nhận ra rằng thời kỳ suy tàn của một chế độ đang trên con đường sụp đổ chính trong thời kỳ này loạn An Lộc Sơn đã làm cho vua quan phải bỏ cả Trường An mà chạy. Với tư cách là kẻ sỉ chứng nhân của thời đại TK muốn nói lên điều đó tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng chữ nghĩa có thể là tai họa nhưng không thể không nói chính vì vậy ông đã mượn bến Phong Kiều gần thành Cô Tô để gởi gắm thông điệp của mình.(Từ sau khi vua nước Ngô là Phù Sai vì Tây Thi mà mất nước thì thành Cô Tô (và tên Cô Tô) nơi Phù Sai xây cho Tây Thi ở đã trở thành điển tích biểu tưởng cho sự suy vong của một triều đại dẩn đến mất nước. Theo tôi đây chính là lý do mà TK đã chọn bến Phong Kiều để làm chất liệu cho bài thơ của mình).

Trên đây là những ý kiến của tôi về  bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của nhà thơ Trương Kế. Những gì tôi nêu ra trong bài này có nhiều khác biệt với các ý kiến trước đây nhưng không ngoài mục đích làm phong phú thêm sự cảm nhận đối với một bài thơ được xem là một kiệt tác của thơ  Đường. Kính mong các vị thức  giả cùng quan tâm vui lòng góp ý để cho việc hiểu bài thơ này mỗi ngày mỗi hoàn hảo hơn./.

............................../////////////.........................................

1 - Kiến thức ngày nay  số 388 ra ngày 20.5.2001 trang 71.

2 - Tự học Hán văn Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1995 trang 294.

3 - Bình giảng thơ Đường do Nxb Giáo Dục in   năm 2003 trang 84 .

4 - Kiến thức ngày nay số 537 ngày 10.7.2005 trang 43.

5- Tự học Hán văn - Nguyễn Khuê 294 295. Nxb TPHCM 1995

6 - Báo Văn nghệ- Hội nhà văn số 48 ngày 28-11-1992.

7 - Hội đồ Thiên Gia thi -  Chung Bá Kính do Nhật Tân thư trang ấn hành.

8 - Báo Văn Nghệ -Hội nhà văn số 10 ngày 6-3-1993

9 - Báo Văn Nghệ TPHCM số 77 ra ngày 18 - 24 - 11-1993

10- Đường Thi Tam Bách Thủ độc bản của Sổ Nghiêu tuyển tập do Văn Nguyên thư cục ấn hành 1965.

11 -Kiến thức ngày nay số 537 ngày 10.7.2005

12 -Đường thi tam bách thủ hân thưởng của Lưu Đại Trừng thuật chú do Văn hóa đồ thư công ty ấn hành.

13 - Văn - số 26 - 1993 do Ban văn hoá TW Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Xb trang 62.

(*)Có thể những người này lấy địa danh ngày nay mà xét. Bởi vì từ sau khi bài thơ "Phong kiều dạ bạc" của Trương Kế ra đời người ta đã lấy các từ trong bài thơ đặt tên núi. Các tên núi này cũng đã đi vào thi ca như bài "Quá phong kiều tự" của nhà thơ Tôn Địch đời Tống mà trong Đường thi tam bách thủ  giải thích như sau : Nguyên văn:

"Kim nhân hoặc dĩ vi "ô đề"nãi Hàn Sơn tự dĩ tây hửu "ô đề sơn"phi chỉ "ô nha đề khiếu "sầu miên" nãi Hàn San tự dĩ nam đích ‘sầu miên sơn" phi chỉ "ưu sầu nan miên" thù bất tri "ô đề sơn" dử "sầu miên sơn" khước thị nhơn Trương Kế thi đắc danh" Tôn Địch đích "Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự"cú trung đích "ô đề" tức thị minh hiển chỉ " Ô đề sơn".

Tạm dịch:

"Ngày nay một số người cho rằng"O Đề"là "núi O Đề"phía tây chùa Hàn San chứ chẳng phải là "tiếng Quạ Kêu" "Sầu Miên"là "núi Sầu Miên"phía nam chùa Hàn San chứ chẳng phải "lo âu khó ngủ". (Họ) đâu biết rằng "núi O Đề" và "núi sầu miên" là do vì bài thơ của Trương Kế mà có tên.. Từ "ô đề"trong câu thơ "ÔĐề nguyệt lạc kiều biên tự" rõ ràng chỉ"núi  Ô Đề".

(*) Loài quạ thường sinh sống từng bầy ban ngày đi kiếm ăn thì chia làm nhiều đàn nhỏ chiều về chung sống với nhau. Đặc biệt chúng thường kêu inh ỏi vào buổi sáng sớm điều này đã làm cho các nhà điểu loại học hết sức quan tâm sau nhiều năm  nghiên cứu họ biết rằng loài quạ kêu inh ỏi vào buổi sáng chính là chúng nói chuyện với nhau cụ thể là chúng thông tin cho nhau nơi nào có nhiều thức  ăn sau đó chúng mới bay đi kiếm ăn. Thông tin này được phát trên VTV2 trong chương trình" thế giới loài vật"đề tài " đời sống của loài quạ"ngày giờ tôi không còn nhớ.




 

More...

Giải mã bài thơ " Phong Kiều Dạ Bạc" của Trương Kế (1)

By Viennhu


   

Giải mã bài thơ

"PHONG KIỀU DẠ BẠC" của Trương Kế

Viên Như

( Linh Sơn Đà Lạt mùa mưa 2005)

Phong kiều dạ bạc

Tác giả: Trương Kế

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hoả đối sầu miên.

Cô tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

Dịch

Trăng lặn quạ kêu sương kín trời

Lửa chài cây bến trước con ngươi.

Hàn San chùa cổ ngoài Cô phủ

Khuya khoắt chuông vang vọng tới người.

Đây là một tuyệt tác của nhà thơ Trương Kế và cũng là một kiệt tác của thơ Đường.Từ khi ra đời cho tới nay nó đã được các nhà thơ cũng như những nhà nghiên cứu  quan tâm bình giảng. Tựu trung ai cũng đều công nhận đây là một kiệt tác. Tuy nhiên hầu hết không bình giảng bài thơ này một cách toàn diện mà chủ yếu là tập trung vào việc chú thích các từ ngữ trong đó thường tập trung ở câu 2 và 4. Từ đó người ta thường nghĩ : Vì buồn nên nhà thơ không ngủ được vì không ngủ được nên nhà thơ mới có được bài thơ tuyệt tác này để lại cho đời. Nghĩ như thế có lẽ do cụm từ "ĐỐI SẦU MIÊN" trong câu 2. Chính vì vậy câu này đã có nhiều ý kiến khác nhau. Còn vấn đề nghĩa của hai từ "DẠ BÁN" ở câu bốn đến nay vẫn  chưa giải quyết được.

- Vậy  nghĩa của từ "sầu miên" như thế nào?.Có phải TK do buồn vì thấy cảnh trăng lăn quạ kêu mà không ngủ được hay vì một lý do nào khác?

- Có đúng  là  chuông chùa Hàn San được đánh vào lúc nửa đêm không? Hay là đây là một ngữ bịnh(tỳ vết) của bài thơ ?.

- Thông điệp mà TK muốn gởi đến người đọc là gì?.

Trước hết xin ghi lại đây cách dịch  và hiểu của một số dịch giả về bài bài thơ này :

Đêm neo thuyền ở bến Phong Kiều

Câu 1

Trăng lặn quạ kêu sương đầy trời

Câu 2:

1- Nguyễn Quảng Tuân : "Khách nằm trong thuyền ngó  ra ngoài thấy hàng cây phong ở trên bờ sông và những ánh đèn  thuyền chài trước bến trong lòng sinh ra buồn bã nên cứ mơ màng không ngủ được".(1)

2- Nguyễn Khuê : "Hàng cây phong bên bờ sông và ánh đèn thuyền chài đối cùng khách đang thao thức sầu".(2)

3-  Nguyễn Thị Bích Hải : "Cây phong bên bờ sông ngọn lửa đèn chài (khách) ngủ với nỗi buồn".(3)

4- Nguyễn cảnh Phức: "Rặng cây phong bên bờ sông và ngọn lửa trên thuyền chài đang đối diện với nhau mà ngủ một cách buồn rầu".(4)

Câu 3

Ở ngoài thành Cô Tô có chùa Hàn San

Câu 4

Trần Trọng Kim Tản Đà dịch :

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.(5)

Ngô Tất Tố dịch :

Tiếng chuông đưa đến bên đò canh khuya.

Bùi Khánh Đản dịch :

Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền.

Trần Trọng San dịch :

Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.

Nguyễn Khuê dịch :

Thuyền khách đêm khuya vẳng tiếng chuông.

Còn rất nhiều người dịch bài thơ này ở đây xin nêu một vài người tiêu biểu.

Như vậy câu 2 đã có nhiều ý kiến khác nhau . Câu 4 tuy có nhiều cách dịch như thế chủ yếu là dựa vào cảnh trong bài thơ chứ đến nay chưa ai lý giải tại sao "DẠ BÁN" lại được dịch như vậy. Do đó hai từ "DẠ BÁN"   vẫn chưa giải quyết được.

Ngoài những ý kiến trên còn có một số ý kiến khác về các từ  Giang phong ngư hoả sầu miên như sau:

Nguyễn Dậu trong bài "Đôi điều thâu lượm quanh Hán tự" viết :(6)

" Nếu ai có dịp đi qua Cô Tô hãy đến cầu Phong ở phía tây thành có bến Cô Tô. Hai bờ sông có hai ngọn núi đối ảnh sơn một núi mang  tên Giang Phong một núi mang tên ngư hoả. Vậy Giang Phong và Ngư Hoả trong thơ không dính gì đến cây phong và lửa nhà chài cả".

Còn trong quyển " Hội đồ Thiên Gia thi" (7) Chung Bá Kính có ý kiến khác như sau :

Nguyên văn :

"Giang Phong thị danh Sầu Miên sơn danh Ngư Hỏa thuyền thượng hoả Cô Tô thành tức Tô Châu thành Hàn San tự hữu Phật danh Hàn San Nguyệt Lạc Ô Đề dạ thâm chi thời dã. Tư thời sương lạc mãn thiên Giang Phong thị chi ngư hoả điểm điểm dữ  Sầu Miên sơn tương đối nhi thành ngoại tự chung dạ bán thanh văn vu khách thuyền chi thượng giang trung dạ cảnh cái như thử "(*)

Tạm dịch :

" Giang Phong  tên chợ Sầu miên  tên núi Ngư hoả là ánh lửa trên thuyền chài Cô Tô thành tức thành Tô Châu Hàn Sơn tự có Phật tên Hàn San Nguyệt lạc Ô đề nghĩa  là đêm đã khuya. Vào lúc ấy sương xuống đầy trời những ánh đèn chài bên chợ Giang phong lấp  lánh cùng đối diện với núi Sầu miên mà (trong lúc ấy ) tiếng chuông chùa ở ngoài thành Cô Tô nửa đêm vọng tới khách thuyền  trên sông cảnh trong đêm là như vậy".

Sau bài viết của ông Nguyễn Dậu ông Mai Quốc Liên  đã viết rằng :

" Chẳng lẽ tất cả các học giả người Trung Hoa đều dốt địa lý và quan liêu ngồi nhà chú sai hiểu sai thơ đến như thế"(8).

Ông Lý Việt Dũng đã viết trong báo Văn Nghệ như sau:

"GIANG PHONG" "NGƯ HOẢ"phải hiểu là "cây phong bên sông và ánh lửa của người thuyền chài" vì " tuyệt nhiên chưa từng thấy sách nào chú đó là tên hai ngọn núi cả".(9)

Còn đối với cách chú giải của Chung Bá Kính thì tôi thấy có nhiều điều không hợp lý có thể nêu ra sau đây:

- Tại sao chợ Giang phong chỉ có đèn chài không thôi không lẽ chợ chẳng có đèn đóm gì hay sao?

- Có lẽ nào các thuyền chài lại đánh cá nơi chợ? Còn nếu các thuyền chài buôn bán cá ở chợ thì nhất định ánh đèn của chợ sẽ sáng gấp bội phần ánh đèn chài do đó nhà thơ không thể thấy đèn chài hơn nữa nếu chúng ta dựng lại hình ảnh như TK mô tả trong thơ thì thấy thật vô lý bởi vì sương đầy trời mà với chỉ vài ngọn đèn chài lấp lánh thì làm sao mà thấy ngọn núi để mà tương đối cho được.

Như thế ta thấy những chú thích của ông Nguyễn DậuChung Bá Kính tuy mới nhưng thiếu tính thuyết phục. Vì vậy tôi nghĩ rằng cách giải  thích hai từ  "GIANG PHONG" "NGƯ HOẢ" như  ông các Lý Việt Dũng Mai quốc Liên và sách Đường thi tam bách thủ là phù hợp hơn.

Còn đối với từ "SẦU MIÊN" thì chúng ta thấy rằng hầu hết những người dịch bài thơ này Trung Hoa cũng như  Việt Nam đều thống nhất "SẦU MIÊN" là tâm trạng thao thức sầu muộn của tác giả ngoại trừ  Nguyễn Cảnh Phức.

I  VỀ NGHĨA CỦA TỪ "SẦU MIÊN"

Để tìm hiểu từ  "SẦU MIÊN" có nghĩa như thế nào trước hết hãy phân tích cách dùng từ của tác giả trong bài này như thế  nào.

Theo tôi ta có thể viết lại cấu trúc bài thơ ấy như sau :

1-  Nguyệt   lạc    ô  đề   sương   mãn thiên giang  phong ngư  hoả         đối      sầu  miên

             C          V         C   V       C                  V                                            .            .                        .

CHỦ NGỮ                                                                                                                     VỊ   NGỮ

2-  Cô Tô thành ngoại  Hàn San tự      da   bán     chung    thanh             đáo     khách thuyền

.                                                                            C       V               C             V    .                 .                                  .

CHỦ NGỮ                                                                                                              VỊ   NGỮ

Nhìn vào câu 1  ta thấy Trương Kế đã sử dụng các cụm từ " nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên" kỳ thực là những câu hoàn chỉnh (xem ở cuối bài) nhưng tác giả đã tỉnh lược lại thành những  ngữ danh từ tương đương với danh từ ghép "giang phong ngư hoả" với chức năng chủ ngữ ở vị ngữ ta có động từ "ĐỐI" do đó ta có thể chắc chắn rằng "SẦU MIÊN" là danh từ ghép để cân xứng với các ngữ danh từ và danh từ ghép ở chủ ngữ. Như vậy giờ đây ta hãy xem danh từ ghép "SẦU MIÊN" nghĩa như  thế nào?.

Như ta biết Trương Kế sau gần cả đêm thức trắng về mặt sinh lý thì dĩ nhiên cơ thể muốn ngủ nhưng do suy nghĩ quá nhiều về một vấn đề gì đó nên không thể ngủ được để nói lên tâm trạng này Trương Kế diễn tả qua các hình ảnh âm thanh mà ông cảm nhận lúc đó. Ta thấy trong tám đối tượng (5 ở hai câu trên ( Trăng lặn quạ kêu sương kín trời lửa chài cây bến) và 3 ở hai câu cuối(thành Cô Tô chùa Hàn San tiếng chuông )  mà Trương Kế nêu ra thì hết bốn thuộc về sự cảm nhận của mắt (thị giác) hai thuộc về cảm nhận của tai ( thính giác)và hai thì thuộc về cảm nhận của tư duy(tri giác). Dựa vào cấu trúc trên ta có thể hình dung ra được một người nằm trong thuyền cơ thể thì thúc giục cơn buồn ngủ mà tinh thần thì vẫn còn tỉnh táo vẫn cảm nhận được mọi thứ trước mặt chung quanh bên ngoài (ĐỐI). như vậy ta có thể nói rằng không chỉ có giang phong ngư hoả đối sầu miên mà cả nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên và cả tiếng chuông cũng đối sầu miên bởi vì tất cả những thứ đó đều xảy ra trong cùng một thời điểm cùng tác động lên tâm hồn tác giả. Như cấu trúc 1 và 2 cho thấy sầu miên là trạng thái của khách thuyền. Chính vì vậy nghĩa của từ "SẦU MIÊN" không những chỉ được khẳng định bởi  Câu 1 và câu 2 mà cả câu 3 và 4  nữa.

Như đã phân tích trên từ  "SẦU MIÊN" là một danh từ ghép trường hợp này là từ ghép chính phụ trong đó từ "SẦU" bổ nghĩa cho từ "MIÊN" và có nghĩa là  "THAO  THỨC" hay "TRẰN TRỌC" .

Như vậy ta có thể nói rằng nguyên nhân khiến cho Trương Kế không ngủ được chính là " sầu muộn lo âu" sở dĩ ta biết được điều đó là dựa vào từ "sầu" ngoài ra còn căn cứ vào những cảm quan mà bài thơ mang lại. Nhưng cũng có người cho rằng nếu lấy từ "sầu" trong "sầu miên" để cho ta nghĩa " buồn" thì còn lại từ "miên" làm sao dịch là "thao thức" thậm chí họ nêu câu hỏi rằng "hay có tự điển nào định nghĩa "MIÊN" có nghĩa là thao thức" (11). Tuy nhiên trong văn chương không phải khi nào chúng ta cũng hiểu một cách cứng nhắc như vậy; bởi vì nếu ta cứ phân tích và hiểu theo cách đó thì những câu như : " Đau xé lòng anh chết nửa con người" hay "người đi một nửa hồn tôi mất một nửa hồn kia bổng dại khờ" về mặt y học  thì  không thể chấp nhận được nhưng trong văn học thì thật tuyệt vời. "Văn dĩ tải đạo" "Ý tại ngôn ngoại"  là vậy.  Do đó Trương Kế dùng từ " sầu" ở đây là cố ý .

II - CÓ PHẢI TRƯƠNG KẾ BUỒN KHÔNG NGỦ ĐƯỢC VÌ THẤY CẢNH TRĂNG LĂN QUẠ KÊU...........KHÔNG?

Như  đã đề cập ở trên Trương Kế không ngủ được là vì buồn rầu lo âu nhưng ông buồn rầu lo âu điều gì?  Từ trước đến nay hầu như ai cũng nghĩ là Trương Kế thao thức không ngủ được vì buồn hay do buồn vì thấy cảnh trăng lặn quạ kêu ...... lửa chài cây bến   mà không ngủ được như Đường Thi Tam Bách Thủ(ĐTTBT) độc bản của Sổ nghiêu tuyển tập (10) đã giảng:

Nguyên văn :

"Ngã kim tại giá Phong Kiều hạ đình thuyền trụ túc chỉ kiến nguyệt lượng lạc hạ khứ đích thời hầu ô nha tại thụ thượng đề khiếu mãn thiên giáng trước nùng sương giang biên đích phong thụ hoà ngư thuyền thựơng đích đăng quang chính đối trước ngã giá cá ưu sầu bất đắc thành miên đích nhân"

Tạm dịch :

" Đêm nay  tôi neo thuyền tại bến Phong kiều thấy ánh trăng càng lúc càng xa mờ đi trên cây đàn quạ kêu đầy trời sương giăng mù mịt những  cây phong bên sông cùng ánh đèn chài lấp lánh trước mặt làm cho tôi ưu sầu không sao ngủ được ".

Có lẽ vì sách ĐTTBT giảng như thế nên ở Việt Nam chúng ta cũng nghĩ như thế chăng? Thật ra Trương Kế đã thức suốt đêm rồi những gì được tả trong thơ  thuộc về cuối đêm nên đâu phải vì thấy khung cảnh như thế sinh buồn không ngủ được. Hơn nữa nếu hiểu như vậy thì đơn thuần bài thơ chỉ là một bài tả cảnh vậy đâu là thông điệp của bài thơ chắc chắn ai cũng biết rằng thông điệp mà TK muốn gởi đến người đọc nằm đằng sau những gì ông mô tả trông bài thơ . Thông điệp ấy như thế nào  tôi sẽ đề cập tới trong một phần sau nhưng có một điều ta hiểu được là ông cho ta biết ông rất lo âu và vì lo âu nên không ngủ được. Ở đây tôi dùng từ "lo âu" bởi vì  cái làm cho ông thao thức ấy phải lớn hơn nỗi buồn cách ông dùng từ trong thơ cho ta nghĩ như vậy. Nhìn vào cách TK xử dụng từ loại trong bài thơ chúng ta thấy với một bài thơ 28 chữ mà ông đã dùng tới 7 động từ (Lạc đề mãn đối bán thanh đáo) với 3 động từ trong câu mở đầu và 3 động từ trong câu kết thúc còn lại là danh từ chỉ duy nhất 1 phó từ (ngoại) và1 tỉnh từ (sầu) mà từ sầu này chỉ bổ nghĩa cho từ miên(ngủ). Do đó tôi nghĩ rằng chắc chắn có một điều gì đó hết sức mạnh mẽ tác động lên tâm hồn Trương Kế làm cho ông không ngủ được. Ở đây ta cũng thấy Trương Kế đã xử dụng từ "sầu" hết sức khéo léo. Mặc dầu từ ghép "sầu miên" có nghĩa là "thao thức" nhưng nó cũng gợi cho người đọc hiểu rằng lòng ông lo âu sầu muộn biết bao trong đêm ấy tại bến Phong Kiều. Ta có thể hiểu rằng đây chính là cách mà TK vừa bày tỏ lòng mình nhưng lại vừa dấu ý định của mình. Bởi vì vào thời Trương Kế không ít thi nhân đã gặp tai hoạ vì chữ nghĩa. Do đó khi ông viết "sầu miên" thì có thể giải thích được khi bị chất vấn.

Đến đây tôi xin  tạm dịch hai câu  thơ trên như sau :

"Trăng đã lặn quạ kêu trời đầy sương

Hàng cây phong bên sông cùng ánh lửa chài đang ở trước cơn buồn ngủ".

Dịch thơ :

"Trăng lặn quạ kêu sương kín trời.

Lửa chài cây bến trước con ngươi"

IIICÓ PHẢI CHUÔNG CHÙA  HÀN  SAN   ĐÁNH  VÀO LÚC NỬA ĐÊM  ?

Đây là một vấn đề mà đã làm tổn hao rất nhiều công sức và giấy mực của những nhà nghiên cứu người thì bảo tại vì nhà thơ mơ màng nên cứ ngỡ là nửa đêm chứ  thực ra lúc ấy chẳng phải nửa đêm như trong quyển Đường thi hợp giải bát bách thủ của Hà Trừng Bình  đã viết:

Nguyên văn:

"Thử thời thực bất thị dạ bán. Trương kế sầu miên thời tâm thần hoảng hốt nghi kỳ thị bán dạ dã".

Tạm dịch:

"Lúc bấy giờ thực chẳng phải là nửa đêm Trương Kế đang lúc chập chờn tinh thần hoảng hốt ngỡ là nửa đêm vậy".

Nhưng cũng có người cho rằng: quả thật chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nửa đêm như đã được chú trong quyển Đường thi tam bách thủ hân thưởng của Lưu Đại Trừng : :(12)

Nguyên văn:

"Âu Dương Tu viết: Thi nhân tham cầu hảo cú nhi lý hữu bất thông giả diệc ngữ bịnh dã. Đường nhân hữu vân: Cô Tô đài hạ Hàn San tự dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Thuyết giả diệc vân: Cú tắc giai hỷ kỳ như tam canh bất thị đả chung thời.Diệp Thiếu Uẩn Thạch Lâm thi thoại: Cái công vị thường chí Ngô trung kim Ngô trung tự thực bán dạ đả chung".

Tạm dịch:

"Âu Dương Tu nói: Nhà thơ vì tham cầu đặt câu cho hay nên lý không được thông đó là một ngữ bịnh. Người đời Đường có nói rằng: Chùa Hàn San dưới đài Cô Tô nửa đêm tiếng chuông vang tới tận khách trên thuyền. Họ  cũng nói rằng : Câu thơ rất đẹp duy chỉ có canh ba đâu phải lúc đánh chuông. Sách Thạch Lâm thi thoại của Diệp Thiếu Uẩn có nói: Vì ông chưa đến huyện Ngô hiện nay chùa ở đó nửa đêm có đánh chuông thật".

Lại có người không quan tâm đến chuyện chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nào và xem việc tìm hiểu có hay không tiếng chuông nửa đêm là chuyện bới lông tìm vết như trong quyển Đường thi tam bách thủ độc bản của Sổ Nghiêu  viết:

Nguyên văn:

" Hậu nhân dĩ vi dạ bán vô chung thanh tương cấu bệnh vị miễn xuy mao cầu tì".

Tạm dịch :

"Người đời sau cho rằng nửa đêm không có tiếng chuông và cho đó là một ngữ bịnh. Xin miễn bới lông tìm vết".

Trên đây là những ý kiến của những thức giả Trung Hoa. Ở Việt Nam thì hầu như đa số những người nghiên cứu đều biết việc đánh chuông vào lúc nửa đêm là không phù hợp với khung cảnh được tả trong bài thơ nhưng vì chưa lý giải được tại sao lại dùng từ "dạ bán" trong hoàn cảnh như vậy nên chấp nhận rằng tiếng chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nửa đêm và chẳng có bình luận gì mới. Theo tôi nghĩ bởi vì trước đây đa số những ngưòi quan tâm đến bài thơ này đều trông đợi sự chú thích của các thức giả Trung Hoa mà như ta biết hầu như  ai cũng chấp nhận hoặc đó là lúc nửa đêm hoặc đây là một tỳ vết của bài thơ.

Không thỏa mãn với những gì đã nêu trên ở đây  tôi muốn tìm hiểu về nghĩa của từ "DẠ BÁN" trong bài thơ này xem thử có thực "DẠ BÁN" có nghĩa là "NỬA ĐÊM" không ?.

Để tìm hiểu vấn đề nầy tôi xin ghi lại cách Trương Kế diễn tả cảnh trong đêm đó qua các hình ảnh âm thanh mà ông đã ghi lại trong bài thơ.

Trăng đã lặn quạ kêu trời đầy sương

Hàng cây phong bên sông cùng ánh lửa chài đang ở trước cơn buồn ngủ.

Ngoài thành Cô Tô có chùa Hàn San

Đêm đã qua hơn một nửa (canh khuya) tiếng chuông vọng tới khách trên thuyền

More...