Giải mã bài thơ " Phong Kiều Dạ Bạc" của Trương Kế (1)


   

Giải mã bài thơ

"PHONG KIỀU DẠ BẠC" của Trương Kế

Viên Như

( Linh Sơn Đà Lạt mùa mưa 2005)

Phong kiều dạ bạc

Tác giả: Trương Kế

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hoả đối sầu miên.

Cô tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

Dịch

Trăng lặn quạ kêu sương kín trời

Lửa chài cây bến trước con ngươi.

Hàn San chùa cổ ngoài Cô phủ

Khuya khoắt chuông vang vọng tới người.

Đây là một tuyệt tác của nhà thơ Trương Kế và cũng là một kiệt tác của thơ Đường.Từ khi ra đời cho tới nay nó đã được các nhà thơ cũng như những nhà nghiên cứu  quan tâm bình giảng. Tựu trung ai cũng đều công nhận đây là một kiệt tác. Tuy nhiên hầu hết không bình giảng bài thơ này một cách toàn diện mà chủ yếu là tập trung vào việc chú thích các từ ngữ trong đó thường tập trung ở câu 2 và 4. Từ đó người ta thường nghĩ : Vì buồn nên nhà thơ không ngủ được vì không ngủ được nên nhà thơ mới có được bài thơ tuyệt tác này để lại cho đời. Nghĩ như thế có lẽ do cụm từ "ĐỐI SẦU MIÊN" trong câu 2. Chính vì vậy câu này đã có nhiều ý kiến khác nhau. Còn vấn đề nghĩa của hai từ "DẠ BÁN" ở câu bốn đến nay vẫn  chưa giải quyết được.

- Vậy  nghĩa của từ "sầu miên" như thế nào?.Có phải TK do buồn vì thấy cảnh trăng lăn quạ kêu mà không ngủ được hay vì một lý do nào khác?

- Có đúng  là  chuông chùa Hàn San được đánh vào lúc nửa đêm không? Hay là đây là một ngữ bịnh(tỳ vết) của bài thơ ?.

- Thông điệp mà TK muốn gởi đến người đọc là gì?.

Trước hết xin ghi lại đây cách dịch  và hiểu của một số dịch giả về bài bài thơ này :

Đêm neo thuyền ở bến Phong Kiều

Câu 1

Trăng lặn quạ kêu sương đầy trời

Câu 2:

1- Nguyễn Quảng Tuân : "Khách nằm trong thuyền ngó  ra ngoài thấy hàng cây phong ở trên bờ sông và những ánh đèn  thuyền chài trước bến trong lòng sinh ra buồn bã nên cứ mơ màng không ngủ được".(1)

2- Nguyễn Khuê : "Hàng cây phong bên bờ sông và ánh đèn thuyền chài đối cùng khách đang thao thức sầu".(2)

3-  Nguyễn Thị Bích Hải : "Cây phong bên bờ sông ngọn lửa đèn chài (khách) ngủ với nỗi buồn".(3)

4- Nguyễn cảnh Phức: "Rặng cây phong bên bờ sông và ngọn lửa trên thuyền chài đang đối diện với nhau mà ngủ một cách buồn rầu".(4)

Câu 3

Ở ngoài thành Cô Tô có chùa Hàn San

Câu 4

Trần Trọng Kim Tản Đà dịch :

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.(5)

Ngô Tất Tố dịch :

Tiếng chuông đưa đến bên đò canh khuya.

Bùi Khánh Đản dịch :

Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền.

Trần Trọng San dịch :

Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.

Nguyễn Khuê dịch :

Thuyền khách đêm khuya vẳng tiếng chuông.

Còn rất nhiều người dịch bài thơ này ở đây xin nêu một vài người tiêu biểu.

Như vậy câu 2 đã có nhiều ý kiến khác nhau . Câu 4 tuy có nhiều cách dịch như thế chủ yếu là dựa vào cảnh trong bài thơ chứ đến nay chưa ai lý giải tại sao "DẠ BÁN" lại được dịch như vậy. Do đó hai từ "DẠ BÁN"   vẫn chưa giải quyết được.

Ngoài những ý kiến trên còn có một số ý kiến khác về các từ  Giang phong ngư hoả sầu miên như sau:

Nguyễn Dậu trong bài "Đôi điều thâu lượm quanh Hán tự" viết :(6)

" Nếu ai có dịp đi qua Cô Tô hãy đến cầu Phong ở phía tây thành có bến Cô Tô. Hai bờ sông có hai ngọn núi đối ảnh sơn một núi mang  tên Giang Phong một núi mang tên ngư hoả. Vậy Giang Phong và Ngư Hoả trong thơ không dính gì đến cây phong và lửa nhà chài cả".

Còn trong quyển " Hội đồ Thiên Gia thi" (7) Chung Bá Kính có ý kiến khác như sau :

Nguyên văn :

"Giang Phong thị danh Sầu Miên sơn danh Ngư Hỏa thuyền thượng hoả Cô Tô thành tức Tô Châu thành Hàn San tự hữu Phật danh Hàn San Nguyệt Lạc Ô Đề dạ thâm chi thời dã. Tư thời sương lạc mãn thiên Giang Phong thị chi ngư hoả điểm điểm dữ  Sầu Miên sơn tương đối nhi thành ngoại tự chung dạ bán thanh văn vu khách thuyền chi thượng giang trung dạ cảnh cái như thử "(*)

Tạm dịch :

" Giang Phong  tên chợ Sầu miên  tên núi Ngư hoả là ánh lửa trên thuyền chài Cô Tô thành tức thành Tô Châu Hàn Sơn tự có Phật tên Hàn San Nguyệt lạc Ô đề nghĩa  là đêm đã khuya. Vào lúc ấy sương xuống đầy trời những ánh đèn chài bên chợ Giang phong lấp  lánh cùng đối diện với núi Sầu miên mà (trong lúc ấy ) tiếng chuông chùa ở ngoài thành Cô Tô nửa đêm vọng tới khách thuyền  trên sông cảnh trong đêm là như vậy".

Sau bài viết của ông Nguyễn Dậu ông Mai Quốc Liên  đã viết rằng :

" Chẳng lẽ tất cả các học giả người Trung Hoa đều dốt địa lý và quan liêu ngồi nhà chú sai hiểu sai thơ đến như thế"(8).

Ông Lý Việt Dũng đã viết trong báo Văn Nghệ như sau:

"GIANG PHONG" "NGƯ HOẢ"phải hiểu là "cây phong bên sông và ánh lửa của người thuyền chài" vì " tuyệt nhiên chưa từng thấy sách nào chú đó là tên hai ngọn núi cả".(9)

Còn đối với cách chú giải của Chung Bá Kính thì tôi thấy có nhiều điều không hợp lý có thể nêu ra sau đây:

- Tại sao chợ Giang phong chỉ có đèn chài không thôi không lẽ chợ chẳng có đèn đóm gì hay sao?

- Có lẽ nào các thuyền chài lại đánh cá nơi chợ? Còn nếu các thuyền chài buôn bán cá ở chợ thì nhất định ánh đèn của chợ sẽ sáng gấp bội phần ánh đèn chài do đó nhà thơ không thể thấy đèn chài hơn nữa nếu chúng ta dựng lại hình ảnh như TK mô tả trong thơ thì thấy thật vô lý bởi vì sương đầy trời mà với chỉ vài ngọn đèn chài lấp lánh thì làm sao mà thấy ngọn núi để mà tương đối cho được.

Như thế ta thấy những chú thích của ông Nguyễn DậuChung Bá Kính tuy mới nhưng thiếu tính thuyết phục. Vì vậy tôi nghĩ rằng cách giải  thích hai từ  "GIANG PHONG" "NGƯ HOẢ" như  ông các Lý Việt Dũng Mai quốc Liên và sách Đường thi tam bách thủ là phù hợp hơn.

Còn đối với từ "SẦU MIÊN" thì chúng ta thấy rằng hầu hết những người dịch bài thơ này Trung Hoa cũng như  Việt Nam đều thống nhất "SẦU MIÊN" là tâm trạng thao thức sầu muộn của tác giả ngoại trừ  Nguyễn Cảnh Phức.

I  VỀ NGHĨA CỦA TỪ "SẦU MIÊN"

Để tìm hiểu từ  "SẦU MIÊN" có nghĩa như thế nào trước hết hãy phân tích cách dùng từ của tác giả trong bài này như thế  nào.

Theo tôi ta có thể viết lại cấu trúc bài thơ ấy như sau :

1-  Nguyệt   lạc    ô  đề   sương   mãn thiên giang  phong ngư  hoả         đối      sầu  miên

             C          V         C   V       C                  V                                            .            .                        .

CHỦ NGỮ                                                                                                                     VỊ   NGỮ

2-  Cô Tô thành ngoại  Hàn San tự      da   bán     chung    thanh             đáo     khách thuyền

.                                                                            C       V               C             V    .                 .                                  .

CHỦ NGỮ                                                                                                              VỊ   NGỮ

Nhìn vào câu 1  ta thấy Trương Kế đã sử dụng các cụm từ " nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên" kỳ thực là những câu hoàn chỉnh (xem ở cuối bài) nhưng tác giả đã tỉnh lược lại thành những  ngữ danh từ tương đương với danh từ ghép "giang phong ngư hoả" với chức năng chủ ngữ ở vị ngữ ta có động từ "ĐỐI" do đó ta có thể chắc chắn rằng "SẦU MIÊN" là danh từ ghép để cân xứng với các ngữ danh từ và danh từ ghép ở chủ ngữ. Như vậy giờ đây ta hãy xem danh từ ghép "SẦU MIÊN" nghĩa như  thế nào?.

Như ta biết Trương Kế sau gần cả đêm thức trắng về mặt sinh lý thì dĩ nhiên cơ thể muốn ngủ nhưng do suy nghĩ quá nhiều về một vấn đề gì đó nên không thể ngủ được để nói lên tâm trạng này Trương Kế diễn tả qua các hình ảnh âm thanh mà ông cảm nhận lúc đó. Ta thấy trong tám đối tượng (5 ở hai câu trên ( Trăng lặn quạ kêu sương kín trời lửa chài cây bến) và 3 ở hai câu cuối(thành Cô Tô chùa Hàn San tiếng chuông )  mà Trương Kế nêu ra thì hết bốn thuộc về sự cảm nhận của mắt (thị giác) hai thuộc về cảm nhận của tai ( thính giác)và hai thì thuộc về cảm nhận của tư duy(tri giác). Dựa vào cấu trúc trên ta có thể hình dung ra được một người nằm trong thuyền cơ thể thì thúc giục cơn buồn ngủ mà tinh thần thì vẫn còn tỉnh táo vẫn cảm nhận được mọi thứ trước mặt chung quanh bên ngoài (ĐỐI). như vậy ta có thể nói rằng không chỉ có giang phong ngư hoả đối sầu miên mà cả nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên và cả tiếng chuông cũng đối sầu miên bởi vì tất cả những thứ đó đều xảy ra trong cùng một thời điểm cùng tác động lên tâm hồn tác giả. Như cấu trúc 1 và 2 cho thấy sầu miên là trạng thái của khách thuyền. Chính vì vậy nghĩa của từ "SẦU MIÊN" không những chỉ được khẳng định bởi  Câu 1 và câu 2 mà cả câu 3 và 4  nữa.

Như đã phân tích trên từ  "SẦU MIÊN" là một danh từ ghép trường hợp này là từ ghép chính phụ trong đó từ "SẦU" bổ nghĩa cho từ "MIÊN" và có nghĩa là  "THAO  THỨC" hay "TRẰN TRỌC" .

Như vậy ta có thể nói rằng nguyên nhân khiến cho Trương Kế không ngủ được chính là " sầu muộn lo âu" sở dĩ ta biết được điều đó là dựa vào từ "sầu" ngoài ra còn căn cứ vào những cảm quan mà bài thơ mang lại. Nhưng cũng có người cho rằng nếu lấy từ "sầu" trong "sầu miên" để cho ta nghĩa " buồn" thì còn lại từ "miên" làm sao dịch là "thao thức" thậm chí họ nêu câu hỏi rằng "hay có tự điển nào định nghĩa "MIÊN" có nghĩa là thao thức" (11). Tuy nhiên trong văn chương không phải khi nào chúng ta cũng hiểu một cách cứng nhắc như vậy; bởi vì nếu ta cứ phân tích và hiểu theo cách đó thì những câu như : " Đau xé lòng anh chết nửa con người" hay "người đi một nửa hồn tôi mất một nửa hồn kia bổng dại khờ" về mặt y học  thì  không thể chấp nhận được nhưng trong văn học thì thật tuyệt vời. "Văn dĩ tải đạo" "Ý tại ngôn ngoại"  là vậy.  Do đó Trương Kế dùng từ " sầu" ở đây là cố ý .

II - CÓ PHẢI TRƯƠNG KẾ BUỒN KHÔNG NGỦ ĐƯỢC VÌ THẤY CẢNH TRĂNG LĂN QUẠ KÊU...........KHÔNG?

Như  đã đề cập ở trên Trương Kế không ngủ được là vì buồn rầu lo âu nhưng ông buồn rầu lo âu điều gì?  Từ trước đến nay hầu như ai cũng nghĩ là Trương Kế thao thức không ngủ được vì buồn hay do buồn vì thấy cảnh trăng lặn quạ kêu ...... lửa chài cây bến   mà không ngủ được như Đường Thi Tam Bách Thủ(ĐTTBT) độc bản của Sổ nghiêu tuyển tập (10) đã giảng:

Nguyên văn :

"Ngã kim tại giá Phong Kiều hạ đình thuyền trụ túc chỉ kiến nguyệt lượng lạc hạ khứ đích thời hầu ô nha tại thụ thượng đề khiếu mãn thiên giáng trước nùng sương giang biên đích phong thụ hoà ngư thuyền thựơng đích đăng quang chính đối trước ngã giá cá ưu sầu bất đắc thành miên đích nhân"

Tạm dịch :

" Đêm nay  tôi neo thuyền tại bến Phong kiều thấy ánh trăng càng lúc càng xa mờ đi trên cây đàn quạ kêu đầy trời sương giăng mù mịt những  cây phong bên sông cùng ánh đèn chài lấp lánh trước mặt làm cho tôi ưu sầu không sao ngủ được ".

Có lẽ vì sách ĐTTBT giảng như thế nên ở Việt Nam chúng ta cũng nghĩ như thế chăng? Thật ra Trương Kế đã thức suốt đêm rồi những gì được tả trong thơ  thuộc về cuối đêm nên đâu phải vì thấy khung cảnh như thế sinh buồn không ngủ được. Hơn nữa nếu hiểu như vậy thì đơn thuần bài thơ chỉ là một bài tả cảnh vậy đâu là thông điệp của bài thơ chắc chắn ai cũng biết rằng thông điệp mà TK muốn gởi đến người đọc nằm đằng sau những gì ông mô tả trông bài thơ . Thông điệp ấy như thế nào  tôi sẽ đề cập tới trong một phần sau nhưng có một điều ta hiểu được là ông cho ta biết ông rất lo âu và vì lo âu nên không ngủ được. Ở đây tôi dùng từ "lo âu" bởi vì  cái làm cho ông thao thức ấy phải lớn hơn nỗi buồn cách ông dùng từ trong thơ cho ta nghĩ như vậy. Nhìn vào cách TK xử dụng từ loại trong bài thơ chúng ta thấy với một bài thơ 28 chữ mà ông đã dùng tới 7 động từ (Lạc đề mãn đối bán thanh đáo) với 3 động từ trong câu mở đầu và 3 động từ trong câu kết thúc còn lại là danh từ chỉ duy nhất 1 phó từ (ngoại) và1 tỉnh từ (sầu) mà từ sầu này chỉ bổ nghĩa cho từ miên(ngủ). Do đó tôi nghĩ rằng chắc chắn có một điều gì đó hết sức mạnh mẽ tác động lên tâm hồn Trương Kế làm cho ông không ngủ được. Ở đây ta cũng thấy Trương Kế đã xử dụng từ "sầu" hết sức khéo léo. Mặc dầu từ ghép "sầu miên" có nghĩa là "thao thức" nhưng nó cũng gợi cho người đọc hiểu rằng lòng ông lo âu sầu muộn biết bao trong đêm ấy tại bến Phong Kiều. Ta có thể hiểu rằng đây chính là cách mà TK vừa bày tỏ lòng mình nhưng lại vừa dấu ý định của mình. Bởi vì vào thời Trương Kế không ít thi nhân đã gặp tai hoạ vì chữ nghĩa. Do đó khi ông viết "sầu miên" thì có thể giải thích được khi bị chất vấn.

Đến đây tôi xin  tạm dịch hai câu  thơ trên như sau :

"Trăng đã lặn quạ kêu trời đầy sương

Hàng cây phong bên sông cùng ánh lửa chài đang ở trước cơn buồn ngủ".

Dịch thơ :

"Trăng lặn quạ kêu sương kín trời.

Lửa chài cây bến trước con ngươi"

IIICÓ PHẢI CHUÔNG CHÙA  HÀN  SAN   ĐÁNH  VÀO LÚC NỬA ĐÊM  ?

Đây là một vấn đề mà đã làm tổn hao rất nhiều công sức và giấy mực của những nhà nghiên cứu người thì bảo tại vì nhà thơ mơ màng nên cứ ngỡ là nửa đêm chứ  thực ra lúc ấy chẳng phải nửa đêm như trong quyển Đường thi hợp giải bát bách thủ của Hà Trừng Bình  đã viết:

Nguyên văn:

"Thử thời thực bất thị dạ bán. Trương kế sầu miên thời tâm thần hoảng hốt nghi kỳ thị bán dạ dã".

Tạm dịch:

"Lúc bấy giờ thực chẳng phải là nửa đêm Trương Kế đang lúc chập chờn tinh thần hoảng hốt ngỡ là nửa đêm vậy".

Nhưng cũng có người cho rằng: quả thật chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nửa đêm như đã được chú trong quyển Đường thi tam bách thủ hân thưởng của Lưu Đại Trừng : :(12)

Nguyên văn:

"Âu Dương Tu viết: Thi nhân tham cầu hảo cú nhi lý hữu bất thông giả diệc ngữ bịnh dã. Đường nhân hữu vân: Cô Tô đài hạ Hàn San tự dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Thuyết giả diệc vân: Cú tắc giai hỷ kỳ như tam canh bất thị đả chung thời.Diệp Thiếu Uẩn Thạch Lâm thi thoại: Cái công vị thường chí Ngô trung kim Ngô trung tự thực bán dạ đả chung".

Tạm dịch:

"Âu Dương Tu nói: Nhà thơ vì tham cầu đặt câu cho hay nên lý không được thông đó là một ngữ bịnh. Người đời Đường có nói rằng: Chùa Hàn San dưới đài Cô Tô nửa đêm tiếng chuông vang tới tận khách trên thuyền. Họ  cũng nói rằng : Câu thơ rất đẹp duy chỉ có canh ba đâu phải lúc đánh chuông. Sách Thạch Lâm thi thoại của Diệp Thiếu Uẩn có nói: Vì ông chưa đến huyện Ngô hiện nay chùa ở đó nửa đêm có đánh chuông thật".

Lại có người không quan tâm đến chuyện chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nào và xem việc tìm hiểu có hay không tiếng chuông nửa đêm là chuyện bới lông tìm vết như trong quyển Đường thi tam bách thủ độc bản của Sổ Nghiêu  viết:

Nguyên văn:

" Hậu nhân dĩ vi dạ bán vô chung thanh tương cấu bệnh vị miễn xuy mao cầu tì".

Tạm dịch :

"Người đời sau cho rằng nửa đêm không có tiếng chuông và cho đó là một ngữ bịnh. Xin miễn bới lông tìm vết".

Trên đây là những ý kiến của những thức giả Trung Hoa. Ở Việt Nam thì hầu như đa số những người nghiên cứu đều biết việc đánh chuông vào lúc nửa đêm là không phù hợp với khung cảnh được tả trong bài thơ nhưng vì chưa lý giải được tại sao lại dùng từ "dạ bán" trong hoàn cảnh như vậy nên chấp nhận rằng tiếng chuông chùa Hàn San đánh vào lúc nửa đêm và chẳng có bình luận gì mới. Theo tôi nghĩ bởi vì trước đây đa số những ngưòi quan tâm đến bài thơ này đều trông đợi sự chú thích của các thức giả Trung Hoa mà như ta biết hầu như  ai cũng chấp nhận hoặc đó là lúc nửa đêm hoặc đây là một tỳ vết của bài thơ.

Không thỏa mãn với những gì đã nêu trên ở đây  tôi muốn tìm hiểu về nghĩa của từ "DẠ BÁN" trong bài thơ này xem thử có thực "DẠ BÁN" có nghĩa là "NỬA ĐÊM" không ?.

Để tìm hiểu vấn đề nầy tôi xin ghi lại cách Trương Kế diễn tả cảnh trong đêm đó qua các hình ảnh âm thanh mà ông đã ghi lại trong bài thơ.

Trăng đã lặn quạ kêu trời đầy sương

Hàng cây phong bên sông cùng ánh lửa chài đang ở trước cơn buồn ngủ.

Ngoài thành Cô Tô có chùa Hàn San

Đêm đã qua hơn một nửa (canh khuya) tiếng chuông vọng tới khách trên thuyền