Nghĩa chữ Tâm trong câu " Bát nhã Tâm kinh

 

        Cần phải thống nhất một cách hiểu cho từ "Tâm"

        trong câu " Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh"



Đạo Phật truyền vào Việt Nam đến nay đã hai mươi thế kỷ mặc dầu ngày nay có nhiều tài liệu chứng minh rằng đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang Việt Nam chứ không như cách nghĩ trước đây rằng từ Trung quốc. Tuy nhiên có thề nói rằng hầu hết kinh điển Đại Thừa  Phật Giáo mà người Việt Nam đang đọc tụng hiện nay đều được dịch ra từ  Hán Tạng. Tâm kinh Bát Nhã cũng không ngoài cách ấy.


Do hoàn cảnh lịch sử đã có rất nhiều từ Hán đã biến thành từ Hán Việt chính vì vậy đôi khi dịch thuật nếu không đối chiếu kỷ thì dễ bị nhầm lẫn do tính đa nghĩa của từ. Một trong những từ đó từ Tâm mà cụ thể ở đây là từ Tâm trong câu "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh". Trong ngữ cảnh này từ Tâm lại được dịch ra tiếng Việt với nhiều nghĩa khác nhau như sau :

Lòng .

              " Công chúa thấy thế thương song

                Bèn chuyển kinh lòng động đến hoàng thiên"

                           Nam Hải Quan Am - Chân  Nguyên Thiền Sư

              : "Dựng cầu đò xây chiền tháp ngoài trang nghiêm sự tướng hảy tu

        Xăn hỉ xã nhuyến từ bi nội tự tại kinh lòng hằng đọc".

                                      Cư trần lạc đạo phú - Trần Nhân Tông

 Ruột    . Kinh ruột tuệ giác siêu việt - Thi Vũ - Rừng trúc Paris Xb 1973

Tâm : Chân như - thật tánh - Bát Nhã Tâm Kinh giảng giải - H.T Thích thanh Từ - nhà XB TPHCM . 1998

Tinh yếu . - Thiền môn nhật tụng năm 2000 .Thiền sư Thích nhất Hạnh

" Kinh ruột bát nhã" -"kinh lõi bát nha" - "bài  tóat yếu kinh bát nhã"- Tâm kinh bát nhã ba la mật đa - H.T. Thích Trí Thủ -tủ sách kinh luận tánh không -1982 .

Trái tim .  _  Kinh trái tim tuệ giác vô thượng  - Thích Tâm Thiện - nhà XBTPHCM 2000 .


Với tất cả những nghĩa trên thì nghĩa nào gần với nghĩa của bản gốc nhất? Tại sao lại có nhiều nghĩa như thế? . Vậy từ Tâm trong câu "Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh" nghĩa như thế nào ?

Để giải quyết vấn đề này chúng ta hãy xem xét lại quá trình phiên dịch kinh Bát Nhã đại bản cũng như tiểu bản :


Về đại bản
:

•-    Kinh Bát Nhã được biết sớm nhất ở TQ là vào năm 178 sau tây lịch khi Chi Lâu Ca Sấm dịch Tiểu phẩm Bát Nhã với cái tên Đạo hành Bát Nhã kinh.

•- Trúc Pháp Hộ  dịch Đại Phẫm bát Nhã với tên mới là Quang Tán và Phóng Quang Bát Nhã vào khỏang giữa thế kỷ thứ III .

•-  La Thập dịch lại tòan bộ hai tập trên với cái tên ban đầu là Tiểu Phẩm và Đại Phẩm bát Nhã vào đầu thế kỷ thứ  V.

•-   Huyền Tráng  dịch lại với cái tên Đại Bát Nhã gồm 600 cuốn vào thế kỷ thứ  VII sau khi đi thỉnh kinh ở An Độ về .


Về tiểu bản
:

-  Ma Ha Bát Nhã ba la mật chú kinh - do Chi Khiêm dịch năm 223 . ( Thất bản) sau Tây lịch.

•-  Ma Ha Bát Nhã ba la mật đại minh chú - do  Cưu Ma La Thập dịch khỏang 402-412 sau Tây lịch.

•-   Bát Nhã ba la mật đa Tâm kinh - do  Huyền Tráng dịch năm 649

•-   Bát Nhã ba la mật đa na kinh - Do Bồ Đề Lưu Chi dịch năm 693 .(Thất bản)

•-   Phật thuyết Bát Nhã ba la mật đa tâm kinh - Do  Nghĩa Tịnh dịch năm 700.

•-   Ma Ha Bát Nhã  Tùy Tâm kinh - Do Từ Hiền dịch năm 700 ( Thất bản) .

•-   Phạn Bản Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - Do Bất Không Kim Cương dịch năm723 .( Thất bản)

•-   Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - Do Pháp Nguyệt dịch 732

•-  Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - do Bát Nhã và Lợi Ngôn dịch năm 790

•-  Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh  - do Trí Tuệ Luân dịch 850.

•-  Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh  -- Do Pháp Thành dịch  năm 856 .
     •-  Phật thuyết thánh mẫu Bát Nhã Ba La Mật đa Tâm kinh - do Thi Hộ dịch năm 980.


Như thế ta có thể thấy rằng tất cả các bản kinh đại bản hay tiểu bản đều gọi là kinh Bát Nhã và chỉ  ở tiểu bản thì có bản có từ "Tâm" và có bản không. Điều này giúp ta khẳng định rằng Kinh này là kinh Bát Nhã cho dù đại bản hay tiểu bản và chữ Tâm phải liên quan đến việc rút gọn hay tinh lược của bản kinh.(Thường thì người ta nghỉ rằng tiểu bản là "Tâm Kinh" chứ ít người nghĩ là "Bát Nhã Kinh" lâu dần ta có khuynh hướng nghĩ rằng có một bản "Tâm Kinh" độc lập ngoài bản Bát Nhã kinh. Chính vì nghĩ như thế nên dịch giả thường tập trung vào từ Tâm và cho nó một vai trò chính trong bản kinh này) mỗi khi chúng ta khẳng định được điều này thì chúng ta sẽ thấy rằng chức năng của từ  "Tâm" trong câu "Ma ha Bát Nhã Ba La mật Đa Tâm Kinh" chỉ là bổ ngữ cho từ "Kinh" và như đã nói ở trên tên chính của kinh này là Bát Nhã do vậỳ nghĩa của từ này(Tâm)bổ nghĩa cho từ Bát nhã và  phải liên quan đền sự rút gọn của kinh Bát Nhã đồng thời chỉ có vai trò phụ mà thôi  cho nên dù không có từ "Tâm" này thì ý nghĩa của bài kinh vẫn có nguyên giá trị chính vì vậy ta thấy có  nhiều bản dịch chữ Hán không có từ "Tâm" này.

Như thế thì tất yếu từ "Tâm" ở đây chỉ mang nghĩa là : Đại ý tóm lược tóat yếu cốt lỏi tinh túy hay tinh yếu những phái nghĩa khác của từ "Tâm". Tất nhiên sẽ  có người đặt câu hỏi như vậy tại sao gọi là "Tâm Kinh" ? Thật ra "Tâm Kinh" chỉ là một cách nói tỉnh lược của câu "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" mà thôi đây là một quy tắc của ngôn ngữ và hết sức phổ biến . Ví dụ : Kinh Diệu Pháp liên Hoa  gọi tắt là "Kinh Pháp Hoa" "Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm " gọi tắt là "Kinh Hoa Nghiêm" Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật " gọi tắt là  "Kinh Kim Cang" v.v . Nếu chúng ta cứ căn cứ vào từ đã được tỉnh lược mà dịch nghĩa thì quả thật khó mà trung thực với ý nghĩa của nó và đôi khi làm sai lệch nghĩa của cụm từ mà nó tỉnh lược. Ví dụ :Nếu ta dịch "Tâm kinh" (*) là kinh này nói về Tâm thì ta sẽ dịch như thế nào đối với "Kinh Kim Cương" Không lẽ ta lại dịch là kinh này nói về một loại đá quý.

Thật ra những gì tôi trình bày ở trên cũng không có gì mới lạ nó đã được nhiều bậc Cao Tăng Thạc Đức đã đề cập đến rồi nhưng những vị đó chỉ giải thích nhằm lý giải kinh "Tâm kinh "mà thôi . Trong bài này tôi tập trung vào nghĩa của từ "Tâm" trong bản kinh này. Thiết nghỉ rằng chúng ta đang ở vào thế kỷ 21 nhu cầu Việt hóa kinh điển hết sức cần thiết bởi vì Đạo Phật đã có mặt trên đất nước này ngót 2000 năm và Bát Nhã Tâm Kinh này chắc chắn đã được hàng triệu triệu người trì tụng qua nhiều năm tháng lẽ nào mỗi người hiểu mỗi cách và rồi dịch theo cách riêng của mình mà dường như  khi đọc  bản tiếng Việt thì ý của dịch giả này không gần với người kia thậm chí có khi còn hoàn toàn đối nghịch nữa. Như thế thì những người muốn nghiên cứu kinh Phật biết căn cứ vào đâu để hiểu được kinh này. Đây chính là trách nhiệm của những người phiên dịch và giảng giải kinh điển ra tiếng Việt . Do đó việc thống nhất một nghĩa đối với từ "Tâm" trong bản kinh này là điều cần thiết nó cho thấy một quan điểm nhất quán đối với giáo pháp của đức Phật đồng thời tạo cho người nghiên cứu Phật Pháp có một cơ sở để đi vào con đường tu tập. và sau cùng là nó nói lên một sự hiểu biết chắc thật đối với từ "Tâm" trong bài kinh này bởi vì mỗi người dịch mỗi cách khác nhau cũng có nghĩa là chưa có một sự  nhất trí về nghĩa  cho từ "Tâm" trong ngữ cảnh  này .

Với suy nghĩ như vậy và với những gì mà tôi trình bày ở trên tôi cho rằng nghĩa của từ Tâm trong câu " Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" đơn giản chỉ là : Tóm lược tóm tắt toát yếu hay tinh yếu mà trong ngữ cảnh này nghĩa "tinh yếu" là phù hợp hơn cả./.

                                                                                                       Viên Như

(*) Thật ra người dịch đã không lưu ý rằng nghĩa cũa từ hrdaya là trái tim ( Vật lý) chứ không phải là Cita là Tâm (Tâm lý ). Lý do hiểu sai từ Tâm này là do từ Tâm  trong tiếng  Hán và Việt trùng cả âm vị lẫn hình vị hơn nữa người dịch lại không tra cứu kỷ lưởng từ  hrdaya theo tiếng Phạn hay ít nhất cũng tham khảo  các bản dịch khác bằng tiếng Anh Pháp .v.v... để có thể đối chiếu .